Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két giúp em trả lời đầy đủ các câu hỏi ở Bài 6 “Những vấn đề toàn cầu”, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 2 (trang 7 – 10). Lời giải đi theo ba phần: Chuẩn bị đọc, Trải nghiệm cùng văn bản, Suy ngẫm và phản hồi. Nếu em học sách Kết nối tri thức, hãy xem bài Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình – Kết nối tri thức.
Chuẩn bị đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Văn bản là phần trích từ bài tham luận Mác-két đọc tại cuộc gặp gỡ của nguyên thủ sáu nước bàn về việc chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức ở Mê-hi-cô tháng 8 năm 1986. Trước khi đọc, em nên tìm hiểu về vũ khí hạt nhân và những thảm họa nó từng gây ra.

Câu 1: Tìm hiểu về hiểm họa vũ khí hạt nhân (trang 7)
Em hãy tìm hiểu về hiểm họa vũ khí hạt nhân và chia sẻ với các bạn trong lớp.
Trả lời:
- Vũ khí hạt nhân thuộc nhóm vũ khí có sức sát thương trên diện rộng, giải phóng năng lượng khổng lồ từ phản ứng phân hạch hoặc nhiệt hạch.
- Sức tàn phá gồm sóng xung kích, bức xạ nhiệt, bụi phóng xạ: một quả bom có thể xóa sổ cả một thành phố, gây bỏng, nhiễm xạ, ung thư, dị tật kéo dài nhiều thế hệ.
- Bằng chứng lịch sử: tháng 8 năm 1945, hai quả bom nguyên tử thả xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki (Nhật Bản) cướp đi sinh mạng của hàng chục vạn người.
- Nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân quy mô lớn, khói bụi có thể che phủ bầu trời, gây “mùa đông hạt nhân”, đe dọa sự sống trên toàn hành tinh.
Câu 2: Ý nghĩa của việc duy trì hòa bình (trang 7)
Theo em, việc duy trì hòa bình có ý nghĩa gì với mỗi cá nhân và với nhân loại?
Trả lời:
- Với mỗi cá nhân: hòa bình là điều kiện để được sống an toàn, được học tập, làm việc, sum họp gia đình và theo đuổi ước mơ mà không phải sợ hãi bom đạn.
- Với nhân loại: hòa bình giúp các quốc gia dồn nguồn lực cho phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, cùng hợp tác giải quyết các vấn đề chung như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu; giữ gìn thành quả văn minh và sự sống trên Trái Đất.
Trải nghiệm cùng văn bản
Trong khi đọc, em chú ý cách tác giả dùng số liệu và lí lẽ để thuyết phục người nghe.
Câu 1: Bằng chứng khách quan trong đoạn văn (trang 8)
Xác định bằng chứng khách quan trong đoạn này.
Trả lời:
Đoạn văn nêu nhiều bằng chứng khách quan (số liệu, sự kiện có thể kiểm chứng):
- Năm 1981, UNICEF lập kế hoạch cứu trợ nửa tỉ trẻ em nghèo nhất hành tinh (y tế, học tập, vệ sinh, lương thực, nước sạch); kế hoạch cần chừng 100 tỉ đô la nên đành nằm trên giấy.
- Khoản tiền đó chỉ ngang với giá 100 máy bay ném bom B.1B mà Mỹ chế tạo cộng với chưa đầy bảy nghìn quả tên lửa xuyên lục địa.
- Tiền đóng 10 tàu sân bay kiểu Ni-mít có thể chi cho một chương trình phòng bệnh giúp hơn một tỉ người thoát sốt rét và giữ lại mạng sống cho trên 14 triệu em nhỏ chỉ riêng ở châu Phi.
- Số liệu FAO năm 1985: gần 575 triệu người bị đói ăn; nuôi đủ calo cho họ còn rẻ hơn chế tạo 149 tên lửa MX.
- Giá của hai tàu ngầm hạt nhân đã đủ để cả thế giới thoát nạn mù chữ.
Câu 2: Ý nghĩa những số liệu về thời gian (trang 9)
Những số liệu về thời gian trong đoạn này gợi ý nghĩa gì?
Trả lời:
Tác giả nêu những con số khổng lồ: 380 triệu năm để con bướm bay được, thêm 180 triệu năm để bông hồng nở, bốn kỉ địa chất để con người hát hay hơn chim. Các số liệu ấy gợi ý nghĩa:
- Sự sống trên Trái Đất là kết quả của một quá trình tiến hóa vô cùng lâu dài, chậm rãi và quý giá.
- Đặt cạnh việc chỉ một cú nhấn nút đã đủ xóa sạch tất cả, chúng làm nổi bật sự phi lí, ngu xuẩn của chiến tranh hạt nhân: hàng trăm triệu năm tạo dựng bị hủy diệt trong khoảnh khắc.
- Qua đó, tác giả khẳng định chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí con người và cả quy luật tự nhiên.
Câu 3: Đối tượng của giải pháp được đề xuất (trang 9)
Giải pháp được đề xuất trong đoạn văn này hướng đến những đối tượng nào?
Trả lời:
Giải pháp mở một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại sau thảm họa hạt nhân hướng đến:
- Nhân loại tương lai: để họ biết sự sống từng tồn tại trên Trái Đất, từng có đau khổ, bất công nhưng cũng có tình yêu và hạnh phúc.
- Những kẻ gây ra hiểm họa: để tên tuổi họ bị lưu giữ, lên án ở mọi thời đại.
- Những người đang sống hôm nay: như một lời cảnh tỉnh, thức tỉnh trách nhiệm đấu tranh cho hòa bình ngay từ bây giờ.
Suy ngẫm và phản hồi (trang 9 – 10)
Phần này giúp em nắm cấu trúc lập luận của văn bản nghị luận và liên hệ thực tiễn.
Câu 1: Luận đề của văn bản (trang 9)
Luận đề của văn bản trên là gì?
Trả lời:
Luận đề: nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang treo trên đầu cả nhân loại và mọi sự sống trên hành tinh, cho nên ngăn chặn nó, giữ gìn hòa bình là việc mọi người, mọi dân tộc phải làm ngay. Luận đề được thể hiện ngay ở nhan đề do người biên soạn đặt: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
Câu 2: Bố cục và các luận điểm (trang 9)
Xác định bố cục và các luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý: Phần 1 (từ đầu đến “vận mệnh thế giới”) – Thực trạng và các nguy cơ của việc chạy đua vũ khí hạt nhân trong bối cảnh thế giới hiện đại.
Trả lời:
| Bố cục văn bản | Luận điểm |
|---|---|
| Phần 1 (từ đầu đến “vận mệnh thế giới”) | Thực trạng và các nguy cơ của việc chạy đua vũ khí hạt nhân trong bối cảnh thế giới hiện đại. |
| Phần 2 (từ “Niềm an ủi duy nhất” đến “xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới”) | Chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém, cướp đi của nhân loại điều kiện để cải thiện cuộc sống (y tế, thực phẩm, giáo dục). |
| Phần 3 (từ “Một nhà tiểu thuyết lớn” đến “điểm xuất phát của nó”) | Chạy đua vũ trang đi ngược lại lí trí con người và lí trí tự nhiên. |
| Phần 4 (còn lại) | Lời kêu gọi đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân và đề nghị mở nhà băng lưu trữ trí nhớ. |
Câu 3: Sơ đồ quan hệ luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng (trang 10)
Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.
Trả lời:
Em có thể vẽ sơ đồ dạng cây, luận đề ở gốc, bốn luận điểm tỏa ra, mỗi luận điểm có nhánh lí lẽ và bằng chứng:
- Luận đề: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân.
- Luận điểm 1 – Nguy cơ hiện hữu: lí lẽ: kho vũ khí đủ hủy diệt sự sống nhiều lần; bằng chứng: năm vạn đầu đạn được bố trí khắp hành tinh, mỗi người như ngồi trên bốn tấn thuốc nổ, đủ xóa mọi dấu vết sự sống tới mười hai lần.
- Luận điểm 2 – Sự tốn kém, phi lí: lí lẽ: tiền cho vũ khí tước đi cơ hội sống tốt đẹp hơn; bằng chứng: các so sánh về chương trình UNICEF, phòng bệnh sốt rét, thực phẩm theo FAO, xóa nạn mù chữ.
- Luận điểm 3 – Đi ngược lí trí: lí lẽ: Trái Đất là nơi duy nhất có sự sống; bằng chứng: 380 triệu năm, 180 triệu năm, bốn kỉ địa chất so với một nút bấm.
- Luận điểm 4 – Lời kêu gọi: lí lẽ: cần tham gia bản đồng ca đòi hòa bình; bằng chứng, đề xuất: nhà băng lưu trữ trí nhớ.
Các luận điểm có quan hệ chặt chẽ: từ nêu nguy cơ (luận điểm 1), chỉ ra tác hại và sự phi lí (luận điểm 2, 3), đến kêu gọi hành động (luận điểm 4), cùng làm sáng tỏ luận đề.
Câu 4: Cách triển khai bằng chứng trong phần 2 (trang 10)
Em có nhận xét gì về cách tác giả triển khai bằng chứng trong phần 2 của văn bản?
Trả lời:
- Tác giả dùng phép so sánh song song từng cặp: một bên là chi phí cho vũ khí, một bên là nhu cầu sống còn của con người. Mỗi cặp so sánh đều cho thấy sự chênh lệch đến phi lí.
- Bằng chứng được chọn từ nhiều lĩnh vực thiết yếu: chăm sóc trẻ em, y tế, lương thực, giáo dục, nên bao quát và có sức thuyết phục rộng.
- Số liệu cụ thể, có nguồn (UNICEF, FAO), được sắp xếp theo trình tự rõ ràng, mở đầu bằng cụm “một ví dụ” lặp lại, tạo nhịp lập luận dồn dập.
- Cách trình bày khách quan nhưng khiến người đọc tự rút ra kết luận: chạy đua vũ trang là sự lãng phí khủng khiếp, cướp đi cơ hội sống của hàng trăm triệu người.
Câu 5: Mục đích của giải pháp ở đoạn cuối (trang 10)
Tác giả đề xuất giải pháp ở đoạn cuối của văn bản nhằm mục đích gì?
Trả lời:
Đề xuất mở một nhà băng lưu trữ trí nhớ là cách nói giàu tính hình tượng, nhằm:
- Khẳng định sự sống trên Trái Đất là đáng trân trọng và cần được ghi nhớ, dù có đau khổ vẫn có tình yêu, hạnh phúc.
- Lên án, buộc tội những kẻ đã làm ngơ trước lời kêu gọi hòa bình và gây ra thảm họa, để tên tuổi họ không thể bị lãng quên.
- Gây ấn tượng mạnh, thức tỉnh nhân loại hôm nay: đừng để thảm họa xảy ra, hãy hành động ngay để bảo vệ hòa bình.
Câu 6: Lợi ích của năng lượng hạt nhân và sản phẩm truyền thông (trang 10)
Năng lượng hạt nhân khi không dùng để sản xuất vũ khí hủy diệt có thể thành nguồn năng lượng có ích cho nhân loại. Tìm hiểu những lợi ích của năng lượng hạt nhân và thiết kế sản phẩm sáng tạo để giới thiệu thông tin này trên truyền thông của lớp.
Trả lời:
Lợi ích của năng lượng hạt nhân dùng vì mục đích hòa bình:
- Sản xuất điện năng ổn định, công suất lớn, phát thải khí nhà kính rất thấp, góp phần giảm biến đổi khí hậu.
- Trong y học: chẩn đoán hình ảnh, xạ trị điều trị ung thư, khử trùng dụng cụ y tế.
- Trong nông nghiệp và công nghiệp: chiếu xạ bảo quản thực phẩm, tạo giống cây trồng, kiểm tra chất lượng vật liệu.
- Trong nghiên cứu khoa học: xác định niên đại cổ vật, nghiên cứu môi trường, thám hiểm vũ trụ.
Gợi ý sản phẩm: một infographic khổ A3 với tiêu đề “Nguyên tử vì hòa bình”, chia bốn ô màu cho bốn lĩnh vực (điện năng, y tế, nông nghiệp, khoa học), mỗi ô một biểu tượng và hai dòng thông tin; góc dưới ghi lời nhắc: năng lượng hạt nhân phải được sử dụng an toàn, vì con người. Có thể chuyển thành video ngắn 60 giây để đăng trên trang của lớp.
Kết luận
Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, em cần nắm luận đề, bốn luận điểm và cách Mác-két dùng bằng chứng so sánh để thuyết phục. Văn bản ra đời từ năm 1986 nhưng thông điệp bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh hạt nhân vẫn còn nguyên tính thời sự.
Xem thêm: