Nghệ thuật xây dựng nhân vật là cách nhà văn dùng các phương tiện của văn chương (ngoại hình, lời nói, hành động, nội tâm, tình huống, điểm nhìn…) để làm cho một con người trên trang giấy hiện lên sống động, có tính cách và số phận riêng. Trong đề văn, cụm “phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật” yêu cầu người học chỉ ra nhà văn đã làm thế nào để có nhân vật ấy, chứ không chỉ kể nhân vật là người ra sao.
| Khái niệm | Hệ thống cách thức, thủ pháp nhà văn dùng để tạo dựng và khắc họa nhân vật |
| Thuộc | Phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm tự sự, kịch |
| Dấu hiệu nhận biết | Chi tiết ngoại hình, lời thoại, độc thoại, hành động, tình huống, điểm nhìn được tác giả chọn lọc |
| Hay gặp trong | Đề đọc hiểu “nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật”, bài văn phân tích tác phẩm truyện |

Nghệ thuật xây dựng nhân vật, hiểu thế nào?
Nhân vật là con người (hoặc con vật, đồ vật được nhân cách hóa) được miêu tả trong tác phẩm. Phần khái niệm này đã có ở bài khái niệm nhân vật cùng các cách xếp loại. Nghệ thuật xây dựng nhân vật đi thêm một bước: nó hỏi nhà văn đã dùng những công cụ gì để “nặn” ra con người ấy.
Có thể hình dung như xem một bức chân dung. Nói “đây là một bà cụ hiền hậu” là nói về nhân vật. Nói “họa sĩ dùng gam màu ấm, đặt ánh sáng vào đôi mắt, để nếp nhăn mờ đi” là nói về nghệ thuật vẽ. Văn chương cũng vậy, và học sinh hay gọi phần này bằng tên giản dị hơn là cách xây dựng nhân vật trong truyện: tính cách là cái người đọc thu được, còn nghệ thuật xây dựng nhân vật là con đường dẫn tới đó.
Vì thế khi gặp đề “nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật”, câu trả lời phải nêu được cách thức (tác giả miêu tả gì, bằng giọng nào, đặt nhân vật vào đâu) và tác dụng (cách ấy làm nổi bật phẩm chất, số phận hay tư tưởng gì).
Sáu bình diện cần soi khi đọc nhân vật
- Ngoại hình. Dáng người, gương mặt, trang phục, cử chỉ. Nhà văn giỏi ít khi tả toàn diện, chỉ chọn một hai nét “đắt” đủ để lộ tính cách.
- Ngôn ngữ. Gồm lời đối thoại với người khác và lời độc thoại, tự nói với mình. Cách xưng hô, từ ngữ, giọng điệu cho biết nhân vật thuộc tầng lớp nào, đang nghĩ gì. Kiểu lời nhân vật tự nói với chính mình đặc biệt hữu ích để mở nội tâm.
- Hành động. Việc nhân vật làm, nhất là ở thời điểm khó, thường nói thật hơn lời họ nói.
- Nội tâm. Suy nghĩ, cảm xúc, những giằng xé bên trong. Văn học hiện đại dành nhiều chỗ cho lớp này.
- Tình huống và quan hệ. Đặt nhân vật vào một hoàn cảnh thử thách, hoặc đặt cạnh nhân vật khác để soi chiếu, đối lập.
- Điểm nhìn và giọng kể. Nhân vật được kể qua mắt ai: chính họ, một người chứng kiến, hay người kể giấu mình. Đổi chỗ đứng của người kể chuyện là đổi cả cách ta hiểu nhân vật.
Bên cạnh sáu bình diện này còn có bút pháp chung: bút pháp ước lệ tượng trưng của văn học trung đại (tả người đẹp bằng hoa, ngọc, trăng), bút pháp lãng mạn lí tưởng hóa, bút pháp hiện thực chú trọng chi tiết đời thường. Gọi đúng tên bút pháp giúp đoạn phân tích có tầm khái quát.
Bốn nhân vật quen trong sách Ngữ văn
Dế Mèn tự tả mình
Trong Bài học đường đời đầu tiên của Tô Hoài, Dế Mèn tự kể ở ngôi thứ nhất, tự khoe đôi càng khỏe, đôi cánh dài, cái đầu to và bướng. Ngoại hình được tả qua chính miệng nhân vật nên vừa gợi vẻ cường tráng, vừa để lộ sự tự mãn. Đến lúc trêu chị Cốc gây ra cái chết của Dế Choắt, hành động xốc nổi và sự ân hận sau đó làm tính cách nhân vật chuyển động, không đứng yên.
Lão Hạc qua mắt ông giáo
Nam Cao để ông giáo, người hàng xóm, kể chuyện lão Hạc. Người đọc chỉ thấy những gì ông giáo thấy, nên có lúc hiểu lầm lão như ông giáo hiểu lầm (khi lão xin bả chó). Chi tiết ngoại hình lúc lão khóc sau khi bán cậu Vàng, cùng chuỗi việc nhỏ (gửi vườn, gửi tiền, xin bả chó) dẫn tới cái chết dữ dội ở cuối truyện. Điểm nhìn hạn chế làm cái kết bất ngờ và tấm lòng người cha càng sáng. Có thể đọc thêm ở các bài văn mẫu bàn về lão nông bán chó.
Chí Phèo và tiếng chửi
Truyện mở ra bằng tiếng chửi của Chí Phèo, một lời độc thoại không ai đáp. Từ chi tiết ấy, Nam Cao cho thấy nhân vật bị cả làng gạt ra ngoài. Nhân vật được xây dựng theo quá trình: từ anh canh điền hiền lành, qua đoạn tha hóa, đến lúc thức tỉnh nhờ bát cháo hành của Thị Nở, rồi bi kịch bị cự tuyệt. Nội tâm được mở dần, nên người đọc thấy phần người còn nguyên dưới gương mặt “con quỷ dữ”.
Huấn Cao trong ngục tối
Nguyễn Tuân dựng Huấn Cao bằng bút pháp lãng mạn: tài viết chữ đẹp, khí phách hiên ngang, tấm lòng trong sáng, tất cả đều được nâng lên tầm phi thường. Tác giả đặt nhân vật vào một tình huống éo le (người tử tù gặp viên quản ngục mê chữ) và dùng thủ pháp đối lập giữa bóng tối nhà ngục với ánh đuốc, giữa tư thế tù nhân với tư thế người ban phát cái đẹp. Phần này được triển khai kĩ trong bài phân tích hình tượng người tử tù viết chữ đẹp.
Phân tích nhân vật hay phân tích cách xây dựng?
| Tiêu chí | Phân tích nhân vật | Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật |
|---|---|---|
| Câu hỏi chính | Nhân vật là người thế nào? | Nhà văn làm cách nào để ta thấy điều đó? |
| Trọng tâm | Phẩm chất, số phận, ý nghĩa | Thủ pháp, chi tiết, điểm nhìn, bút pháp |
| Câu mẫu | “Lão Hạc là người cha thương con.” | “Qua điểm nhìn của ông giáo, tình thương con của lão Hạc lộ dần.” |
Một bài văn tốt thường kết hợp cả hai, nhưng đề đã ghi rõ “nghệ thuật xây dựng nhân vật” thì phần thủ pháp phải đứng đầu, mỗi thủ pháp kèm dẫn chứng và tác dụng.
Vì sao xây dựng nhân vật chỉ đổi được thành khắc họa, không đổi thành kiến thiết, được giải thích trong bốn nghĩa của chữ xây dựng.
Để bài viết không lặp mãi một chữ khắc họa, có thể đổi sang xây dựng, dựng nên theo gợi ý ở những từ thay cho khắc họa.
Luyện tập: bốn câu nhận diện cách dựng nhân vật
Câu 1: Kể tên ít nhất năm phương diện nhà văn thường dùng để xây dựng nhân vật.
Đáp án: Ngoại hình; ngôn ngữ (đối thoại, độc thoại); hành động; nội tâm; tình huống và mối quan hệ với nhân vật khác; điểm nhìn, giọng kể. Có thể kể thêm bút pháp (ước lệ, lãng mạn, hiện thực).
Câu 2: Trong Lão Hạc, việc để ông giáo kể chuyện có tác dụng gì với việc xây dựng nhân vật lão Hạc?
Đáp án: Người đọc chỉ biết lão Hạc qua những gì ông giáo thấy và nghĩ, nên câu chuyện chân thực, gần gũi. Điểm nhìn hạn chế còn tạo bất ngờ: cả ông giáo lẫn người đọc từng nghĩ lão xin bả chó để làm việc xấu, đến cái chết mới vỡ lẽ. Nhờ vậy nhân cách lão Hạc hiện lên càng đáng trọng.
Câu 3: Câu văn sau tập trung vào phương diện nào? “Nó cứ đứng lặng ở cửa, hai tay vò mãi vạt áo, mắt nhìn xuống mũi dép.”
Đáp án: Cử chỉ, dáng vẻ bên ngoài (ngoại hình và hành động nhỏ). Qua đó gợi nội tâm: nhân vật đang ngượng, sợ hoặc có lỗi mà chưa dám nói. Đây là cách tả ngoài để gợi trong.
Câu 4: Vì sao nói Nguyễn Tuân xây dựng Huấn Cao bằng bút pháp lãng mạn?
Đáp án: Vì nhân vật được lí tưởng hóa, mang vẻ đẹp phi thường hội tụ cả tài, khí phách và thiên lương; tác giả dùng nhiều thủ pháp đối lập (sáng – tối, tù nhân – người ban ơn) để tôn vẻ đẹp ấy lên. Nhân vật không được tả theo kiểu chi tiết đời thường như nhân vật của văn học hiện thực.
Khi đề yêu cầu nhận xét cách dựng nhân vật
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật cần viết những gì?
Nêu hai đến ba thủ pháp nổi bật nhất (ví dụ miêu tả nội tâm, đặt vào tình huống, điểm nhìn), mỗi thủ pháp một dẫn chứng ngắn, rồi nói tác dụng: làm hiện lên phẩm chất gì, gửi gắm điều gì. Đoạn văn năm đến bảy câu là đủ cho câu hỏi đọc hiểu.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật có giống nghệ thuật miêu tả nhân vật không?
Miêu tả chỉ là một phần. Xây dựng nhân vật rộng hơn, gồm cả cách đặt tình huống, cách chọn người kể, cách để nhân vật thay đổi qua cốt truyện.
Thơ có “xây dựng nhân vật” không?
Truyện thơ như Truyện Kiều có nhân vật và cũng có nghệ thuật xây dựng nhân vật (bút pháp ước lệ khi tả Thúy Vân, Thúy Kiều). Thơ trữ tình thì thường nói về nhân vật trữ tình, cách phân tích khác.
Cách dựng nhân vật trong kịch khác truyện ở đâu?
Kịch không có người kể chuyện, nên nhân vật hiện ra gần như hoàn toàn qua lời thoại và hành động trên sân khấu. Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại vì thế là công cụ chính.