Đề bài phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu thường xuất hiện khi học truyện ngắn này ở sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (Bài 6) và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (Bài 8, đọc mở rộng). Truyện ra đời năm 1925 ở Pháp, viết bằng tiếng Pháp, đúng lúc nhà chí sĩ họ Phan sa vào tay giặc và viên Toàn quyền mới sắp lên đường sang Đông Dương.
Bài viết gồm một dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu với độ dài, góc nhìn khác nhau: bài ngắn gọn, bài đầy đủ, bài tập trung vào nghệ thuật trào phúng, bài so sánh hai nhân vật và bài dành cho học sinh giỏi. Do bản dịch của Phạm Huy Thông còn được bảo hộ bản quyền, các bài chỉ trích những câu ngắn cần thiết. Muốn nắm lại tác giả, bố cục, em đọc thêm bài tác gia Hồ Chí Minh.
Dàn ý phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
Dàn ý dưới đây đi theo trình tự câu chuyện, phù hợp cho bài phân tích tác phẩm.

1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả: Nguyễn Ái Quốc, tức Bác Hồ, là lãnh tụ cách mạng, đồng thời là cây bút truyện ngắn trào phúng sắc sảo thời hoạt động ở Pháp.
– Giới thiệu truyện: viết bằng tiếng Pháp năm 1925, dựng cuộc gặp tưởng tượng giữa Toàn quyền Va-ren và nhà chí sĩ Phan Bội Châu, vạch trần sự giả dối của kẻ cầm quyền và ca ngợi khí phách người yêu nước.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh ra đời và nhan đề
+ Năm 1925, nhà chí sĩ họ Phan bị giặc bắt cóc ở Thượng Hải, giải về nước; phong trào đòi thả ông lên cao. Va-ren, cựu đảng viên Xã hội, được cử sang Đông Dương và hứa hẹn để xoa dịu dư luận.
+ Nhan đề hai vế: “trò lố” là lời phán xét trước; tên hai nhân vật báo hiệu cuộc đối đầu.
⇒ Truyện là một mũi tên bắn ra từ chính thủ đô nước Pháp.
b. Lời hứa và hành trình của Va-ren – chuỗi trò lố
+ Lời hứa “nửa chính thức”, hoãn tới khi yên vị; bốn tuần đi tàu.
+ Sài Gòn: tiệc tùng, đón rước; dân chúng bị roi vọt dồn vào lề, những lời bình phẩm ngây ngô về mũ, áo, ủng của quan.
+ Huế: dự yến, nhận Nam Long bội tinh.
+ Điệp khúc “vẫn nằm tù” sau mỗi chặng.
⇒ Lời hứa rỗng; quyền uy thực dân dựng trên roi vọt và sự xu nịnh của triều đình bù nhìn.
c. Cuộc hội kiến trong xà lim – Va-ren tự lột mặt nạ
+ Cử chỉ hai mặt: một tay bắt tay, một tay giữ gông.
+ Lời nói: ban ơn rồi đặt điều kiện; tâng bốc, than vãn, vẽ viễn cảnh một xứ tự trị; nêu gương những kẻ trở cờ và chính mình.
⇒ Kẻ phản bội, cơ hội, ba hoa; càng nói càng lố.
d. Phan Bội Châu – sức mạnh của sự im lặng
+ Qua lời người kể: người hi sinh tất cả, bậc anh hùng được đồng bào tôn kính.
+ Suốt buổi gặp ông không hé răng, mặc kệ y; Va-ren sững sờ.
+ Phần kết: bộ ria khẽ nhếch, nụ cười kín đáo; T.B.: “đã nhổ vào mặt Va-ren”.
⇒ Khí phách hiên ngang, khinh bỉ kẻ thù; người tù thắng kẻ cầm quyền.
e. Đặc sắc nghệ thuật
+ Tình huống tưởng tượng; tương phản triệt để; trùng điệp.
+ Điểm nhìn dịch chuyển (người kể, Va-ren, đám đông, nhân chứng).
+ Giọng trào phúng, nói mỉa, giễu nhại; kết thúc mở bằng tái bút.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị: tiếng cười đả kích thực dân, lời ca ngợi người yêu nước.
– Ý nghĩa với hôm nay: văn chương là vũ khí; bài học về lòng kiên định trước cám dỗ.
Phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu ngắn gọn – mẫu 1
Nguyễn Ái Quốc thường được nhớ đến qua những áng văn chính luận đanh thép, nhưng những năm ở Pháp, Người còn viết nhiều truyện ngắn đầy tiếng cười. Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, viết năm 1925, là một truyện như thế: chỉ bằng một cuộc gặp tưởng tượng, tác giả đã lột trần viên Toàn quyền mới và tôn vinh nhà chí sĩ đang bị giam cầm.
Truyện mở đầu bằng lời hứa của Va-ren: y “nửa chính thức hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu”. Hai chữ “nửa chính thức” đã đủ cho thấy lời hứa ấy lửng lơ, còn chữ “chăm sóc” đặt trong ngoặc kép thì đầy vẻ mỉa mai. Tiếp đó là hành trình của y: bốn tuần trên tàu, những buổi chiêu đãi ở Sài Gòn, bữa yến và tấm huân chương ở Huế. Sau mỗi chặng, người kể lại nhắc: “Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù”. Lời hứa hóa ra chỉ là một màn diễn.
Cuộc hội kiến trong xà lim là đỉnh điểm của những trò lố. Va-ren tuyên bố “Tôi đem tự do đến cho ông đây!”, nhưng một tay bắt tay người tù, tay kia vẫn nâng cái gông. Rồi y nói mãi không dứt: đòi ông thề trung thành với Pháp, khuyên ông bỏ ý chống đối, kể chuyện những kẻ đã quay lưng với lí tưởng, và khoe chính mình cũng thế. Càng nói, y càng tự phơi bày bộ mặt kẻ phản bội, cơ hội.
Trái lại, Phan Bội Châu không nói lấy một lời. Ông cứ lặng thinh, mặc kệ, khiến Va-ren sững sờ. Cuối truyện, người lính gác kể râu mép ông khẽ nhếch lên, còn một nhân chứng khác bảo ông đã nhổ vào mặt y. Lời bình “cái đó thì cũng có thể” vừa hóm hỉnh vừa sắc như một cái tát.
Với nghệ thuật tương phản, trùng điệp và giọng văn giễu nhại, truyện đã biến kẻ cầm quyền thành trò cười và đưa người tù lên vị thế của người chiến thắng. Tác phẩm cho thấy văn chương trong tay Nguyễn Ái Quốc thật sự là một vũ khí chiến đấu.
Phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu đầy đủ – mẫu 2
Trong di sản văn chương mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh để lại, mảng truyện và kí viết bằng tiếng Pháp những năm hai mươi của thế kỉ trước có một vị trí riêng. Ở đó, ta gặp một ngòi bút trẻ trung, tinh nghịch mà sắc lạnh, coi tiếng cười là vũ khí. Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu là truyện tiêu biểu nhất cho phong cách ấy. Bằng một cuộc gặp do trí tưởng tượng dựng nên, người viết đã lột trần vẻ lố bịch của viên Toàn quyền Đông Dương và dựng lên tượng đài khí phách của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.
Truyện ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt. Năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải rồi giải về nước. Trong nước, phong trào đòi thả ông bùng lên mạnh mẽ. Cùng lúc ấy, Pa-ri cử Va-ren, một chính khách xuất thân từ Đảng Xã hội, sang làm Toàn quyền Đông Dương. Để làm dịu dư luận, Va-ren buông ra một lời hứa. Đang ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc lập tức cầm bút, kể trước chuyến đi của y “bằng đôi cánh của trí tưởng tượng”.
Ngay nhan đề, tác giả đã phán xét. “Những trò lố” chỉ các màn diễn quá đà, kệch cỡm, khiến người ta bật cười. Gắn cụm từ ấy với một sự kiện chính trị trọng đại là cuộc nhậm chức của một Toàn quyền, Nguyễn Ái Quốc đã hạ bệ nó thành một màn hề. Vế sau đặt Va-ren bên cạnh Phan Bội Châu, báo trước cuộc đối đầu giữa kẻ cầm quyền và người tù.
Trò lố đầu tiên là lời hứa. Va-ren “nửa chính thức hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu”. Hứa mà chỉ nửa chính thức, tức là hứa cho có. Người kể giả vờ nghiêm túc, đặt giả định “giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa”, nghĩa là ngầm khẳng định các vị Toàn quyền chẳng bao giờ giữ lời. Rồi ông tính toán thời gian: y chỉ lo việc ấy sau khi yên vị, mà riêng chặng tàu đã mất bốn tuần. Lời hứa bị bóc trần chỉ bằng một phép tính.
Trò lố thứ hai diễn ra ở Sài Gòn. Va-ren bị cuốn vào những bữa tiệc, những cuộc đón rước, những lời chúc tụng, như một món hàng quý được nâng niu. Y được đưa đi diễu qua khu phố bản xứ, nơi phu xe chân trần chạy trên mặt đường bỏng rát. Cảnh xô bồ bỗng im bặt dưới ngọn roi gân bò của viên đội xếp Tây; đám đông đứng dạt vào hai bên lề, khom lưng chờ xe quan. Tác giả để từng người dân cất lời: chú bé để ý cái mũ, chị con gái khen tà áo, anh sinh viên chờ quan diễn thuyết, bác phu xe thở dài nhìn đôi ủng, nhà Nho lẩm bẩm chê tướng mạo. Những lời ấy nghe thì ngây ngô mà thực ra rất thâm: dân chúng chỉ thấy cái vỏ của quan, chẳng ai chờ đợi điều gì ở y. Cái “uy” của nước Pháp hóa ra dựng trên roi vọt.
Trò lố thứ ba là ở Huế. Triều đình đón rước, vua Khải Định mời Va-ren thăm cung, mời dự yến, rồi tự tay gắn lên ngực y tấm “Nam Long bội tinh”. Những câu văn ngắn, nhịp đều đều, đặt quan khách vào vai một cỗ máy cứ được mời là vào, được thết là ăn. Một ông vua đi tặng huân chương cho chính kẻ cai trị nước mình: cảnh tượng vừa buồn cười vừa chua chát.
Sau mỗi trò lố, một câu văn lặp lại: “Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù”. Điệp khúc ấy như một chiếc đồng hồ đếm ngược, mỗi lần vang lên lại kéo người đọc từ cảnh yến tiệc về với cái xà lim tăm tối. Không cần bình luận, sự tương phản đã đủ tố cáo.
Cao trào của truyện là cuộc hội kiến trong ngục. Người kể giới thiệu hai nhân vật bằng hai chuỗi câu dài đối nghịch: một kẻ đã phản bội giai cấp, ruồng bỏ quá khứ; một người đã hi sinh gia đình, của cải, bị săn đuổi, bị kết án, được đồng bào tôn là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập”. Rồi Va-ren cất lời: “Tôi đem tự do đến cho ông đây!”. Nhưng cử chỉ của y lại nói điều ngược lại: “tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch”. Thứ tự do ấy có điều kiện: người tù phải hứa trung thành và hợp tác với nước Pháp. Y tâng bốc ông, rồi than thở, vẽ ra viễn cảnh một xứ tự trị, khuyên ông bỏ ý phục thù. Y dẫn gương Nguyễn Bá Trác và đám bạn cũ đã “đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ”, cuối cùng lấy chính mình làm mẫu mực: từ đảng viên Xã hội thành Toàn quyền. Đoạn độc thoại dài, rối, tự mâu thuẫn ấy là màn tự lột mặt nạ hoàn hảo nhất. Va-ren không cần ai tố cáo, chính miệng y đã khai ra tất cả.
Đáp lại, Phan Bội Châu chỉ nhìn. Những lời của Va-ren trôi tuột đi như nước đổ lá khoai; cái “im lặng dửng dưng” của người tù khiến kẻ cầm quyền sững sờ. Tác giả hóm hỉnh giải thích: không phải vì khác tiếng, đã có thông ngôn, mà vì hai người vốn không thể hiểu nhau. Một bên là thế giới của danh lợi, một bên là thế giới của lí tưởng.
Phần kết là một nét bút tài hoa. Người kể không khẳng định, chỉ dẫn lời anh lính dõng rằng bộ ria của người tù khẽ nhếch một lần, rồi bình rằng có lẽ ông đã “mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy”. Chưa hết, đoạn “T.B.” như lời ghé tai cuối thư, kể rằng ông “đã nhổ vào mặt Va-ren”, và người kể thản nhiên: “cái đó thì cũng có thể”. Phản ứng của người tù tăng dần từ im lặng đến nụ cười khinh, rồi đến cái nhổ; tiếng cười của người đọc cũng vỡ òa theo.
Thành công của truyện nằm ở nghệ thuật trào phúng bậc thầy: tình huống tưởng tượng mà vẫn đúng bản chất; tương phản triệt để; điệp khúc giàu sức tố cáo; điểm nhìn linh hoạt; giọng văn giễu nhại, tỉnh bơ mà sâu cay. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc vừa đả kích chính quyền thực dân lừa bịp, vừa ngợi ca tư thế hiên ngang của người yêu nước.
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu đến nay vẫn khiến người đọc bật cười, rồi lặng đi vì kính phục. Truyện cho ta thấy một Nguyễn Ái Quốc thông minh, hóm hỉnh, biết biến văn chương thành vũ khí, và nhắc ta rằng trước mọi cám dỗ, sự kiên định của người có lí tưởng là sức mạnh không gì lay chuyển nổi.
Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu – mẫu 3
Tiếng cười trong văn học có nhiều cung bậc: cười vui, cười mỉa, cười khinh. Trong Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc dùng tiếng cười như một lưỡi dao sắc, nhắm thẳng vào viên Toàn quyền Đông Dương. Nghệ thuật trào phúng của truyện thể hiện ở nhiều phương diện.
Trước hết là ở nhan đề. Chữ “trò” vốn gợi điều trẻ con, chữ “lố” gợi sự quá đà, kệch cỡm; ghép lại, chúng biến chuyến nhậm chức trịnh trọng của một Toàn quyền thành chuỗi màn hề. Kiểu đặt tên hai vế nối bằng “hay là” còn mang dáng dấp nhan đề tiểu thuyết Pháp xưa, như một lời nhại khéo léo.
Thứ hai là tình huống truyện. Cuộc gặp giữa viên Toàn quyền và người tù hoàn toàn là hư cấu, và người viết nói thẳng điều đó với người đọc. Chính vì là tưởng tượng, ông được quyền phóng đại, đẩy các chi tiết tới mức nực cười mà vẫn đúng với bản chất của nhân vật. Trong tình huống ấy có một sự đảo ngược: kẻ nắm quyền sinh sát lại là kẻ bẽ mặt, người mang gông lại là người chiến thắng.
Thứ ba là cách xây dựng nhân vật Va-ren như một bức biếm họa. Y hứa “nửa chính thức”, đi đâu cũng được đón rước, ăn yến, nhận huân chương. Cử chỉ nổi bật nhất của y là một tay bắt tay người tù, một tay giữ cái gông, một hình ảnh vừa hài hước vừa tố cáo. Lời của y là một bài độc thoại dài, đầy tâng bốc, than thở, hứa hẹn, kể cả khoe khoang sự phản bội của bạn bè và của chính mình. Nhân vật tự nói ra những điều đáng xấu hổ mà vẫn tưởng là đáng tự hào: đó là đỉnh cao của tiếng cười trào phúng.
Thứ tư là ngôn ngữ và giọng điệu. Người kể giả vờ nghiêm trang, nhại lối văn tường thuật của báo chí thuộc địa với những tuần du linh đình, hiện thân tôn nghiêm. Ông dùng câu giả định đầy ngờ vực, những câu cảm thán cố ý, chuỗi động từ âu yếm như dành cho trẻ nhỏ. Câu văn lặp lại “Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù” như một điệp khúc châm chọc, nhắc rằng mọi lời hứa chỉ là gió thoảng. Câu chơi chữ đảo ngược về việc đốt cháy và tôn thờ khiến sự trở cờ hiện ra lố bịch.
Cuối cùng là kết thúc bằng phần tái bút. Người kể không kết luận, chỉ dẫn hai lời đồn: bộ ria người tù khẽ nhích, và ông “đã nhổ vào mặt Va-ren”. Câu bình “cái đó thì cũng có thể” nhẹ tênh mà đầy sức nặng. Tiếng cười ở đây là tiếng cười của người chiến thắng.
Nghệ thuật trào phúng trong truyện không nhằm mua vui. Nó phục vụ một mục đích chính trị rõ ràng: vạch mặt kẻ cai trị và tiếp sức cho cuộc vận động đòi thả nhà chí sĩ. Viết bằng tiếng Pháp, tiếng cười ấy còn vang lên ngay trước mắt độc giả nước Pháp. Đó là minh chứng cho tài năng của Nguyễn Ái Quốc: biến văn chương thành vũ khí mà vẫn giữ được vẻ duyên dáng, thông minh.
Phân tích hai nhân vật Va-ren và Phan Bội Châu – mẫu 4
Toàn bộ sức hấp dẫn của Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu nằm ở thế đối lập giữa hai nhân vật. Nguyễn Ái Quốc đặt cạnh nhau một kẻ cầm quyền và một người tù, để rồi đảo ngược vị thế của họ.
Va-ren có trong tay tất cả: chức Toàn quyền, những đoàn người đón rước, bữa yến của nhà vua, tấm huân chương lấp lánh. Nhưng nhân cách của y thì rỗng. Y từng là đảng viên Xã hội, nay quay lưng với giai cấp của mình để leo lên ghế quan. Y hứa với dư luận một cách nửa vời rồi quên ngay giữa tiệc tùng. Vào ngục, y nói đến tự do trong khi tay còn giữ gông, ra điều kiện như một kẻ mặc cả, tâng bốc rồi dụ dỗ, đem chính sự phản bội của mình ra làm gương. Ở Va-ren, tác giả không cần thêm lời chê: việc y làm, lời y nói đã tự tố cáo y.
Phan Bội Châu thì ngược lại. Ông không có gì ngoài cái gông và bốn bức tường xà lim. Nhưng người kể giới thiệu ông bằng những lời trân trọng nhất: người đã bỏ cả gia đình, của cải để cứu nước, bị săn đuổi, bị kết án, được đồng bào tôn là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập”. Suốt cuộc gặp, ông không nói một lời. Sự im lặng ấy không phải là bất lực mà là thái độ: ông không coi Va-ren là người đáng để đối thoại. Cái nhếch mép khó thấy, rồi cái nhổ ở phần tái bút là những nấc khinh bỉ tăng dần.
Thế đối lập còn thể hiện ở cách miêu tả. Va-ren được tả rất nhiều, nói rất nhiều; Phan Bội Châu gần như không được tả, không có lời thoại. Nhưng càng nhiều chữ, Va-ren càng nhỏ bé; càng ít chữ, Phan Bội Châu càng lớn lao. Đó là nghệ thuật lấy ít thắng nhiều, lấy tĩnh chế động.
Qua hai nhân vật, Nguyễn Ái Quốc khắc họa hai phía của xã hội thuộc địa: một bên là chính quyền thực dân giả dối, ba hoa; một bên là người Việt yêu nước kiên trung, bất khuất. Cuộc đối đầu kết thúc bằng thắng lợi tinh thần của người tù. Đọc truyện, ta vừa cười Va-ren, vừa cúi đầu trước nhân cách lớn của nhà chí sĩ.
Phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (học sinh giỏi) – mẫu 5
Có những trang văn khiến người đọc bật cười trước khi kịp phẫn nộ. Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc là một trang văn như thế. Viết ở Pa-ri năm 1925, bằng thứ tiếng Pháp của chính kẻ cai trị, truyện ngắn này giống một bức biếm họa được vẽ rất nhanh mà trúng đích: nó lột trần một vị Toàn quyền, đồng thời dựng nên chân dung một người tù lớn hơn cả ngục tù.
Truyện được viết như một lời “đón trước”. Va-ren chưa đặt chân tới Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã kể xong chuyến đi của y. Cái hay là người kể thừa nhận ngay mình đang tưởng tượng, rủ độc giả bay theo “bằng đôi cánh của trí tưởng tượng”. Lời thú nhận ấy khiến người đọc thả lỏng để cười, nhưng mọi chi tiết tưởng tượng lại khớp đến đáng sợ với bản chất của chế độ thuộc địa: dân chúng bị roi vọt dồn vào lề đường, vua bản xứ tặng huân chương cho quan cai trị, lời hứa của kẻ cầm quyền tan biến giữa yến tiệc. Hư cấu ở đây không làm sai sự thật mà làm sự thật hiện ra rõ hơn.
Nhịp kể của truyện được tổ chức như một bản nhạc có điệp khúc. Mỗi chặng đường của Va-ren là một đoạn nhạc rộn ràng, rồi tất cả dừng lại ở một câu trầm: “Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù”. Câu văn ấy giản dị, không một tính từ, nhưng nhờ được lặp lại, nó tích tụ sức nặng. Lần đầu ta để ý, lần thứ hai ta chua xót, đến lần thứ ba ta hiểu rằng lời hứa kia không bao giờ được thực hiện. Đó là cách tố cáo bằng nhịp điệu, rất hiện đại.
Đỉnh cao của truyện là đoạn độc thoại của Va-ren trong xà lim. Ở đây, Nguyễn Ái Quốc làm một việc tinh tế: ông im lặng để nhân vật nói. Va-ren mở đầu bằng vẻ ban ơn “Tôi đem tự do đến cho ông đây!”, nhưng chi tiết “tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch” đã tố cáo y trước khi y kịp nói hết. Rồi lời y cứ trượt dần: từ tự do sang điều kiện, từ ngợi khen sang khuyên răn, từ viễn cảnh xứ tự trị sang những tấm gương phản bội. Y tưởng đang thuyết phục, kì thực đang tự khai. Câu đảo ngữ về những người đã “đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ” nghe như một lời thú tội tập thể của cả một lớp chính khách cơ hội. Tiếng cười nảy ra từ khoảng cách giữa điều Va-ren tưởng mình đang làm và điều y thực sự phơi bày.
Đối diện với dòng chữ ồn ào ấy là một khoảng lặng. Phan Bội Châu không có một câu thoại nào. Nhưng chính khoảng trống đó lại là nơi nhân vật hiện lên rõ nhất. Người kể đã chuẩn bị cho sự xuất hiện của ông bằng những câu văn trang trọng hiếm hoi trong một truyện trào phúng: một con người đã hi sinh tất cả, bị săn đuổi, bị kết án, ngày đêm sống cạnh bóng máy chém. Trước một người như vậy, mọi lời dụ dỗ đều trở nên vô duyên. Sự im lặng của ông là sự từ chối tuyệt đối, đặt ông ở một tầm cao mà Va-ren không thể với tới.
Phần kết là một phát hiện nghệ thuật. Thay cho một kết luận, tác giả đưa ra hai lời đồn. Anh lính dõng thấy bộ ria của người tù khẽ động, và người kể đoán ông đã “mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy”. Hình ảnh so sánh nhỏ bé, mong manh mà chính xác lạ lùng: nụ cười ấy chỉ thoáng qua nhưng đủ phủ nhận cả bài diễn văn. Rồi phần tái bút đẩy sự khinh bỉ lên đỉnh điểm: ông “đã nhổ vào mặt Va-ren”. Câu bình “cái đó thì cũng có thể” khép lại truyện bằng giọng tỉnh bơ của người đã nhìn thấu tất cả. Kết thúc mở ấy cho người đọc quyền tự hình dung, và ai cũng hình dung ra Va-ren trong tư thế thảm hại.
Đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, ta nhận ra một Nguyễn Ái Quốc khác với hình ảnh quen thuộc: một nhà văn có óc hài hước tinh tế, nắm vững kĩ thuật truyện ngắn hiện đại, biết dùng cả lời nói lẫn sự im lặng làm chất liệu. Quan trọng hơn, tiếng cười ấy có lí tưởng: nó đứng về phía người bị áp bức, chống lại sự giả dối của kẻ cai trị. Gần một thế kỉ đã trôi qua, truyện vẫn còn nguyên sức sống, nhắc chúng ta rằng sự kiên định trước cám dỗ và quyền lực là phẩm chất làm nên tầm vóc một con người.
Kết luận
Khi phân tích Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, em nên bám vào ba điểm chính: chuỗi trò lố của Va-ren từ lời hứa đến cuộc hội kiến, sự im lặng đầy sức mạnh của người tù, cùng các thủ pháp trào phúng như tương phản, trùng điệp, giễu nhại, kết thúc bằng tái bút. Tùy yêu cầu đề, em có thể chọn phân tích toàn bộ tác phẩm, tập trung vào nghệ thuật hay so sánh hai nhân vật như các mẫu trên.
Xem thêm:
- Phân tích Tuyên ngôn Độc lập
- Phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh
- Soạn bài Tác gia Hồ Chí Minh
- Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu)
- Soạn bài Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu – Văn 12 Kết nối tri thức
- Soạn bài Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu – Văn 12 Chân trời sáng tạo
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc): Tác giả, tác phẩm, bố cục
- Tóm tắt Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu ngắn gọn – 8 mẫu hay nhất