Ôn tập cuối học kì 1 nằm ở trang 166–169 sách Tiếng Việt lớp 1 Cánh diều tập 1, ngay sau Bài 93 và khép lại tập 1. Tuần ôn tập có hai phần: Luyện tập (đố toa tàu chở gì, tập đọc Chú bé trên cung trăng, chọn ng hay ngh, tập chép) và Đánh giá (đọc thành tiếng, đọc hiểu, viết).

Tuần ôn tập cuối học kì 1 gồm những gì?
- Luyện tập (trang 166): 4 hoạt động, ôn các vần có âm cuối như uôc, ương, uôt, ươp, ưng và luật viết ng, ngh.
- Đánh giá – I. Đọc thành tiếng (trang 167–168): bài đọc Một trí khôn hơn trăm trí khôn, chia 5 đoạn có tên riêng; mỗi bạn đọc một đoạn khoảng 35 – 40 tiếng.
- Đánh giá – II. Đọc hiểu, viết (trang 168–169): bài luyện tập gồm phần A. Đọc (nối từ ngữ với hình, đọc thầm bài Thần ru ngủ rồi khoanh ý đúng) và phần B. Viết (điền c hoặc k, tập chép).
So với lần ôn tập giữa kì, đoạn đọc thành tiếng dài hơn (35 – 40 tiếng thay vì khoảng 30 tiếng) và bài đọc cũng dài hơn. Ba mẹ có thể cho con làm mỗi hôm một trang, đọc to trước rồi mới làm bài, sau đó cùng con xem lại chỗ còn sai.
Luyện tập (trang 166)
Câu 1 (trang 166): Đố em: Mỗi toa tàu dưới đây chở gì?
Đoàn tàu có 5 toa ghi vần: 1. uôc, 2. ương, 3. uôt, 4. ươp, 5. ưng. Bên dưới là các hàng hóa có ảnh: thuốc, dưa chuột, đường, mướp, trứng, cá ướp. Mẫu: Toa 1 (uôc): thuốc. Toa 2: ■ Toa 3: ■ Toa 4: ■ Toa 5: ■
Trả lời: Con đọc tên từng món hàng, tìm tiếng có vần giống vần ghi trên toa rồi xếp lên đúng toa:
| Toa | Chở |
| Toa 1 (uôc) – mẫu | thuốc |
| Toa 2 (ương) | đường |
| Toa 3 (uôt) | dưa chuột |
| Toa 4 (ươp) | mướp, cá ướp |
| Toa 5 (ưng) | trứng |
Toa 4 chở hai món vì cả mướp và ướp đều có vần ươp. Tiếng ướp không có âm đầu: ươp – sắc – ướp. Cá ướp là cá được tẩm muối hoặc gia vị để giữ lâu. Con có thể đố thêm: toa uôc còn chở được gì? (đuốc, guốc); toa ưng chở gì? (gừng).
Câu 2 (trang 166): Tập đọc
Bài đọc: Chú bé trên cung trăng (Nguyễn Hoàng).
Trả lời: Bài Chú bé trên cung trăng kể chuyện bà chỉ cho bạn Bi xem những vệt đen mờ trên mặt trăng vào đêm trăng sáng. Bà bảo ba vệt ấy trông như một cây đa, một con trâu nhỏ và một cậu bé. Rồi bà kể: ngày xưa cậu bé sống dưới mặt đất, một trận gió lớn đã thổi cậu cùng cây đa và con nghé bay lên cung trăng. Ở trên ấy cậu bé buồn lắm vì nhớ nhà, nhưng đường về xa quá nên không về được. Tranh tròn như mặt trăng màu vàng, vẽ gốc cây lớn, con nghé và chú bé ngồi tựa gốc cây.
Cách đọc:
- Đánh vần tiếng có vần đã học: trăng (trờ – ăng – trăng), thường (thờ – ương – thương – huyền – thường), bóng (bờ – ong – bong – sắc – bóng), chúng (chờ – ung – chung – sắc – chúng), giống (gi – ông – giông – sắc – giống), nghé (ngờ – e – nghe – sắc – nghé), cuốn (cờ – uôn – cuôn – sắc – cuốn), buồn (bờ – uôn – buôn – huyền – buồn).
- con nghé: con trâu còn nhỏ. trần gian: mặt đất, nơi con người sống. cung trăng: cách gọi mặt trăng trong truyện cổ.
- Tên riêng Bi và Mặt Trăng viết hoa. Đọc giọng chậm, nhẹ như lời bà kể chuyện; câu cuối đọc giọng buồn.
Hỏi thêm để con hiểu bài: Bà chỉ cho Bi xem gì? (ba bóng đen mờ trên mặt trăng). Vì sao chú bé buồn? (vì nhớ nhà mà không về được). Đây là cách người xưa giải thích những vệt tối trên mặt trăng mà ta nhìn thấy.
Câu 3 (trang 166): Em chọn chữ nào: ng hay ngh?
Ba ô trống kèm ảnh: ■é (con nghé đứng trên cỏ), ■e (bạn nhỏ đeo tai nghe), ■ỗng (con ngỗng).
Trả lời:
| ■é | nghé (sau là e nên viết ngh) |
| ■e | nghe (sau là e nên viết ngh) |
| ■ỗng | ngỗng (sau là ô nên viết ng) |
Cách nhớ: âm ngờ viết là ngh (ngờ kép) khi đứng trước e, ê, i (nghé, nghe, nghề, nghỉ); đứng trước các chữ còn lại thì viết ng (ngỗng, ngủ, ngựa). Luật này giống luật g/gh, con xem lại ở Bài 22: ng, ngh.
Câu 4 (trang 166): Tập chép
Câu cần chép: Chú bé trên cung trăng rất nhớ nhà.
Trả lời: Con nhìn câu trong khung, đọc to một lần rồi chép vào vở:
- Câu có 8 tiếng. Tiếng đầu câu viết hoa chữ C.
- Chú ý tiếng khó: trên, trăng (chữ tr), cung (vần ung), nhớ, nhà (chữ nh).
- Các tiếng cách nhau khoảng một con chữ o; cuối câu đặt dấu chấm.
- Chép xong, con đọc lại và so với sách để sửa lỗi.
Đánh giá – I. Đọc thành tiếng (trang 167–168)
Sách ghi: Mỗi học sinh đọc một đoạn khoảng 35 – 40 tiếng. Bài đọc chia 5 đoạn, mỗi đoạn có số và tên riêng; cô giáo chỉ định đoạn, con đọc to, rõ, không đánh vần.
Bài đọc Một trí khôn hơn trăm trí khôn (trang 167–168)
Truyện phỏng theo sách Truyện đọc 1, in năm 1994 (Hoàng Sơn kể). Chồn và gà rừng chơi thân với nhau, nhưng chồn vẫn coi thường gà. Chồn khoe mình có rất nhiều mưu kế, còn gà khiêm tốn nói mình chỉ biết chút ít. Một hôm, gặp người nông dân, hai bạn sợ quá chạy vào trốn trong bụi cỏ. Chồn sợ cuống lên, chẳng nghĩ được cách gì, đành nhờ gà. Gà bày cho chồn một kế. Khi bị bắt, gà vờ như đã mệt lả; người nông dân đặt gà xuống để đuổi bắt chồn thì gà vụt chạy lên đống rơm gáy vang. Bác nông dân quay sang đuổi gà, chồn nhờ thế chạy thoát. Về nhà, chồn vừa xấu hổ vừa phục gà, đến xin lỗi và cảm ơn bạn. Từ đó chồn quý trọng gà hơn.
Năm đoạn và ý chính:
- Đoạn 1 – Tỏ vẻ: chồn khoe khoang, coi thường gà.
- Đoạn 2 – Bất ngờ: gặp bác nông dân, hai bạn chạy trốn vào cỏ.
- Đoạn 3 – Trí khôn của gà: chồn bí, gà nghĩ ra cách thoát.
- Đoạn 4 – Mắc lừa: gà giả vờ để bác nông dân bỏ chồn, đuổi theo gà.
- Đoạn 5 – Cảm phục: chồn nhận ra mình sai, cảm ơn gà.
Khi đọc:
- Đọc đúng các tiếng khó: chồn (ch, vần ôn), khôn (kh), ngầm, thường (ương), cuống cuồng (uông), nghĩ (ngh), giục, thầm thì, rũ, rơm, vươn (ươn), phục (uc).
- Lời nói của chồn, gà đứng sau dấu gạch ngang hoặc trong ngoặc kép: đọc như đang nói. Lời chồn lúc đầu đọc giọng kiêu căng, lúc cuối đọc giọng ân hận, nhẹ nhàng.
- xem thường: coi người khác kém mình. cuống cuồng: vội vã, rối rít vì sợ. co giò: chạy thật nhanh. cảm phục: quý và phục người khác.
Bài học: đừng khoe khoang, coi thường người khác. Người khiêm tốn, bình tĩnh khi gặp khó mới là người khôn.
Đánh giá – II. Đọc hiểu, viết (trang 168–169)
Phần này là bài luyện tập, gồm A. Đọc và B. Viết.
Câu 1 (trang 168): Nối từ ngữ với hình
Các từ ngữ: bông sen, quả mướp, bếp lửa, thiên nga, tập võ, gương. Sáu hình đánh số: 1 chiếc nồi đặt trên bếp đang cháy; 2 tấm gương soi khung tím; 3 khóm hoa sen hồng; 4 quả dài màu xanh treo trên giàn; 5 bạn mặc võ phục trắng đứng thế võ; 6 hai con chim trắng cổ dài bơi trên nước.
Trả lời:
| Hình 1 | bếp lửa |
| Hình 2 | gương |
| Hình 3 | bông sen |
| Hình 4 | quả mướp |
| Hình 5 | tập võ |
| Hình 6 | thiên nga |
Trước khi nối, con đọc từng từ và tìm vần đã học: sen (en), mướp (ươp), bếp (êp), thiên (iên), tập (âp), gương (ương). Thiên nga là loài chim lớn, lông trắng, cổ dài và cong, bơi rất đẹp.
Câu 2 (trang 169): Đọc thầm
Bài đọc: Thần ru ngủ, theo An-đéc-xen (Hạnh Mai kể). Sau bài đọc có câu hỏi: Khoanh tròn chữ cái trước ý đúng: a) Thần ru ngủ giúp đứa bé dễ thương có giấc mơ đẹp. – b) Thần làm cho đứa bé hư chẳng ngủ được.
Trả lời: Con đọc thầm (đọc bằng mắt, không thành tiếng) bài Thần ru ngủ. Bài kể: buổi tối, khi bọn trẻ đang quây quần bên bàn, thần ru ngủ nhẹ nhàng tới, mở hé cánh cửa và thổi một làn gió mát, thế là bọn trẻ díp mắt buồn ngủ. Lúc các bé đã ngủ, thần giương chiếc ô có tranh vẽ đẹp lên trên những em bé ngoan, nên các em mơ những giấc mơ đẹp. Còn với trẻ hư, thần dùng chiếc ô không có hình vẽ, nên các em ấy ngủ mà chẳng có giấc mơ nào. Tranh vẽ ông thần đội mũ đỏ, che chiếc ô có nhiều hình vẽ trên hai em bé đang ngủ ngon.
Khoanh vào a. Ý b sai: bài không nói trẻ hư không ngủ được; trẻ hư vẫn ngủ, chỉ là các em ấy không mơ thấy gì, vì cây ô thần dùng cho trẻ hư chẳng vẽ hình nào.
Câu 1 (trang 169): Điền chữ: c hoặc k
Ba ô trống kèm ảnh: ■iến (con kiến), ■ìm (cái kìm), ■ông (con công).
Trả lời:
| ■iến | kiến (sau là i nên viết k) |
| ■ìm | kìm (sau là i nên viết k) |
| ■ông | công (sau là ô nên viết c) |
Cách nhớ: âm cờ viết là k khi đứng trước e, ê, i (kẻ, kế, kim); trước các chữ còn lại thì viết c (cá, cô, cũ). Con xem lại luật này ở Bài 17: gi, k.
Câu 2 (trang 169): Tập chép
Câu cần chép: Đứa trẻ dễ thương có giấc mơ đẹp.
Trả lời: Con chép câu vào vở ô li:
- Câu có 8 tiếng, viết hoa chữ Đ ở tiếng đầu câu.
- Chú ý: trẻ (chữ tr, dấu hỏi), dễ (dấu ngã), thương (vần ương), giấc (chữ gi, vần âc), đẹp (vần ep, dấu nặng dưới e).
- Ngồi thẳng lưng, cầm bút đúng cách; cuối câu đặt dấu chấm.
Lời khuyên khi ôn tập cuối kì
Tập 1 đã giúp con học hết các âm và rất nhiều vần. Khi ôn, con đọc lại các bài ôn tập trong sách, mỗi ngày một ít; đọc to, rõ, không đánh vần, chỗ nào vấp thì đọc lại. Khi viết, con nhớ ba cặp luật chính tả: c – k, g – gh, ng – ngh (chữ kép hoặc chữ k đứng trước e, ê, i). Muốn xem lại cách làm bài đánh giá lần trước, con mở bài Ôn tập giữa học kì 1.