Tì bà hành của Bạch Cư Dị là văn bản đọc mở rộng theo thể loại trong sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập hai (Bài 8 – Những cung bậc tình cảm), học qua bản dịch song thất lục bát nổi tiếng. Bài viết tổng hợp văn bản đoạn trích, thông tin về tác giả, người dịch, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, cách chia đoạn, những giá trị nổi bật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Tì bà hành (đoạn trích trong sách)
Bài thơ kể lại một đêm thu nhà thơ tiễn khách trên bến Tầm Dương, tình cờ nghe tiếng đàn tì bà của một người ca nữ lưu lạc, rồi nghe nàng kể chuyện đời mình và xúc động đến rơi lệ. Sách giáo khoa in câu 1 – 40 và câu 77 – 88 của bản dịch, đoạn giữa được tóm tắt.

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh.
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng bay.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Giãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.
Dây to dường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bấy giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao.
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông.
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.
[Đoạn lược trong sách: người ca nữ kể lại quãng đời của mình, nhà thơ nói lên niềm đồng cảm.]
“Há chẳng có ca rừng, địch nội?
Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe.
Tì bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”.
Đứng lên dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.
Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh.
Một vài chữ trong bản in sách giáo khoa khác các bản chép cũ của bản dịch, chẳng hạn “dường đổ mưa rào” (bản cũ: “nhường đổ”), “Đứng lên dường cảm lời ta” (bản cũ: “Đứng lâu”), “sướt mướt lệ rơi” (bản cũ: “tuôn nước lệ rơi”). Khi làm bài, các em nên trích theo sách đang học.
Giải thích một số từ ngữ, điển tích
- Tì bà: nhạc cụ dây gảy, thân hình quả lê, có bốn dây; “hành” là một thể thơ cổ, thường dài và giàu chất kể chuyện.
- Tầm Dương: khúc sông Trường Giang chảy qua đất Giang Châu, nơi nhà thơ bị giáng chức.
- Trúc ti: sáo trúc và đàn dây, chỉ âm nhạc nói chung.
- Nghê thường, Lục yêu: tên hai khúc nhạc nổi tiếng đời Đường (Nghê thường vũ y khúc, Lục yêu).
- Đàn bát: miếng gảy đàn tì bà.
- Tư mã: chức quan phụ tá cho Thứ sử, thời trung Đường thường dành cho người bị giáng chức; Giang Châu Tư mã là chính tác giả. Áo xanh: áo của quan phẩm thấp.
Thông tin tác giả Bạch Cư Dị và người dịch
Ngoài nhà thơ viết nguyên tác, bài thơ đến với độc giả Việt Nam qua một bản dịch có giá trị riêng, vì thế cần biết cả hai người.
Tác giả Bạch Cư Dị
Bạch Cư Dị (772 – 846), tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn cư sĩ, là nhà thơ nổi tiếng đời Đường, được nhiều người xếp ngay sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Thuở nhỏ nhà nghèo, sống ở thôn quê nên ông thấu hiểu nỗi cực nhọc của người dân lao động. Năm 800 ông đỗ tiến sĩ, làm quan trong triều.
Năm 815, ông dâng sớ đòi nghiêm trị kẻ đã ám sát tể tướng Vũ Nguyên Hành, bị phe quyền thần cho là vượt quyền và giáng làm Tư mã Giang Châu. Biến cố này là bước ngoặt trong đời ông: tinh thần đấu tranh hăng hái dần lắng xuống, nhường chỗ cho những suy tư về thế sự, nhân tình. Về sau ông còn làm Thứ sử Hàng Châu, Tô Châu, nghỉ hưu năm 842 và mất ở Lạc Dương.
Cùng Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị đề xướng phong trào Tân nhạc phủ, chủ trương thơ phải gắn với thời thế, phản ánh hiện thực và nói lên tâm tư của nhân dân. Thơ ông lời lẽ giản dị, giàu chất tự sự, thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Tác phẩm tiêu biểu: Trường hận ca, Tì bà hành, Tần trung ngâm.
Người dịch Tì bà hành
Bản dịch song thất lục bát được sách giáo khoa và nhiều tuyển tập ghi là của Phan Huy Vịnh (1800 – 1870), con trai Phan Huy Thực, cháu nội Phan Huy Ích, từng làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ và hai lần đi sứ nhà Thanh. Một số tài liệu dựa vào gia phả họ Phan cho rằng người dịch là chính Phan Huy Thực. Dù thuộc về ai, đây vẫn được coi là bản dịch thơ thuộc hàng xuất sắc bậc nhất ở nước ta: bản dịch giữ đủ 88 câu như nguyên tác mà vẫn mang nhạc điệu thuần Việt.
Thông tin tác phẩm Tì bà hành
Các mục dưới đây giúp các em ôn nhanh những kiến thức hay được hỏi về văn bản.
Hoàn cảnh sáng tác Tì bà hành
Bài thơ ra đời năm 816 (năm Nguyên Hòa thứ 11 đời Đường Hiến Tông), khi Bạch Cư Dị đã bị giáng làm Tư mã Giang Châu được hai năm. Một đêm thu tiễn khách ở bến Tầm Dương, ông gặp người ca nữ từng nổi danh ở kinh thành Trường An, nay về già phải lấy chồng lái buôn, sống cô đơn trên thuyền. Thương người, ngẫm đến mình, ông viết nên bài thơ.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Nguyên tác: thể hành, 88 câu thất ngôn, 616 chữ.
- Bản dịch: thơ song thất lục bát, 22 khổ.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả (tả cảnh, tả tiếng đàn).
- Nhân vật trữ tình: nhà thơ – người nghe đàn, xưng “ta”; bên cạnh đó là nhân vật người ca nữ.
Bố cục đoạn trích Tì bà hành
Đoạn trích trong sách có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (8 câu đầu): cảnh tiễn khách đêm thu trên bến Tầm Dương và tiếng đàn bất chợt vọng tới.
- Phần 2 (câu 9 – 40): mời người ca nữ sang thuyền và nghe nàng đánh đàn.
- Phần 3 (phần tóm tắt và câu 77 – 88): nhà thơ bày tỏ sự đồng cảm, mời nàng đàn thêm; tiếng đàn lần cuối khiến cả tiệc rơi lệ.
Giá trị nội dung
- Tái hiện tài đàn điêu luyện và cuộc đời chìm nổi của người ca nữ, qua đó bày tỏ niềm thương cảm với những kiếp người tài hoa mà bất hạnh.
- Gửi gắm tâm sự của chính nhà thơ – một trí thức chính trực bị vùi dập; hai số phận soi chiếu vào nhau, tạo nên mối đồng cảm tri âm.
- Gián tiếp phê phán xã hội phong kiến đã để tài năng bị lãng quên, chà đạp.
Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả âm thanh tài tình: dùng hàng loạt so sánh (mưa rào, lời thì thầm, hạt châu rơi trên mâm ngọc, tiếng oanh, suối chảy, bình bạc vỡ, ngựa sắt xông trận, xé lụa) để “vẽ” tiếng đàn bằng chữ.
- Kết hợp hài hòa tự sự, miêu tả và biểu cảm; tả cảnh để gợi tình (trăng trong lòng sông, thuyền lặng ngắt).
- Bản dịch song thất lục bát giàu nhạc điệu, vần trắc và vần bằng đan xen diễn tả tinh tế những cung bậc cảm xúc.
Ý nghĩa nhan đề Tì bà hành
“Tì bà hành” nghĩa là bài hành về đàn tì bà. Nhan đề đặt tiếng đàn vào trung tâm tác phẩm: tiếng đàn là sợi dây nối người ca nữ với nhà thơ, đồng thời là tiếng nói của những tâm hồn cô đơn, lận đận trong cuộc đời.
Sơ đồ tư duy Tì bà hành
Sơ đồ dưới đây tóm tắt các ý chính để các em dễ ghi nhớ.

Lời kết
Tì bà hành là bài thơ của tiếng đàn và của lòng tri âm. Khi ôn tập, các em nên nhớ hoàn cảnh ra đời năm 816, bố cục ba phần của đoạn trích, những hình ảnh so sánh tiêu biểu khi tả tiếng đàn và câu kết nổi tiếng về giọt lệ của Giang Châu Tư mã.
Xem thêm: