Nhõng nhẽo là làm ra vẻ dỗi, không bằng lòng để buộc người khác chiều theo ý mình, như đứa bé mè nheo đòi bế, đòi quà. Từ này hay nói về trẻ con, nhưng cũng dùng cho người lớn khi họ làm nũng quá đà, nhất là trong chuyện yêu đương. Nghĩa gần với nũng nịu, có điều sắc thái thường hơi chê.
| Nghĩa | Làm nũng, vòi vĩnh để được chiều |
| Loại từ | Từ láy thuần Việt; dùng như tính từ và cả động từ |
| Hay nói về | Trẻ nhỏ; người lớn làm nũng với người thân, người yêu |
| Sắc thái | Thường hơi chê; nói đùa thì nhẹ hơn |

Nhõng nhẽo: tiếng mè nheo thành chữ
Đọc to “nhõng nhẽo” sẽ thấy hai âm tiết kéo dài, uốn giọng, giống hệt tiếng một đứa trẻ đang ỉ ôi bên tai mẹ. Cả hai chữ cùng mở bằng nh-, cùng mang dấu ngã, nên đây là từ láy lặp phụ âm đầu và thanh điệu, kiểu láy rất quen trong tiếng Việt (xem thêm các kiểu từ láy). Âm thanh của từ đã gợi ra dáng điệu trước khi người nghe kịp nghĩ đến nghĩa.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích nhõng nhẽo là làm ra vẻ không bằng lòng để đòi người khác phải chiều theo ý mình, thường nói về trẻ con hoặc phụ nữ, và ghi đồng nghĩa là nũng nịu. Wiktionary tiếng Việt thì giảng ngắn hơn: nói trẻ em hay vòi, hay quấy.
Từ này đứng được ở hai vị trí. Làm tính từ: “Thằng út nhõng nhẽo lắm.” Làm động từ: “Cứ ốm một tí là con bé nhõng nhẽo đòi mẹ nằm cạnh.” Có cả cụm quen “tính hay nhõng nhẽo” để chỉ một nết đã thành thói.
Khi nào nhõng nhẽo là đáng yêu, khi nào thành phiền?
Đứa trẻ ba tuổi nhõng nhẽo vì mệt, vì buồn ngủ, vì muốn được ôm, ai cũng thấy thương. Cũng trò ấy ở một cậu học sinh lớp tám đòi mẹ mua điện thoại mới thì khác: người nghe dễ thấy khó chịu. Chữ nhõng nhẽo vì thế đổi sắc thái theo tuổi người làm, theo mức độ và theo việc đòi cái gì.
Trong tình cảm đôi lứa, nhõng nhẽo đôi khi là cách nói “anh để ý đến em đi”. Một chút thì dễ thương. Nhiều quá, lúc nào cũng dỗi để được dỗ, người kia sẽ mệt. Cách gọi theo kiểu mạng cho người hay đeo bám, cần được quan tâm liên tục là clingy trong tình yêu, gần với nhõng nhẽo ở chỗ đều đòi người khác dành sự chú ý cho mình.
Với trẻ nhỏ, chuyện nhõng nhẽo có liên quan đến cách người lớn đáp lại. Đứa trẻ khóc là được, dỗi là có quà sẽ học rất nhanh rằng mè nheo có hiệu quả. Đó là lý do người ta hay nói con nhõng nhẽo vì được chiều chuộng quá mức.
Nũng nịu, vòi vĩnh, mè nheo đặt cạnh nhau
| Từ | Điểm giống nhõng nhẽo | Chỗ khác |
|---|---|---|
| Nũng nịu | Làm nũng để được chiều | Nhẹ nhàng, dễ thương hơn; ít ý chê |
| Làm nũng | Tỏ ra dỗi để được dỗ | Trung tính, dùng được cả khi khen |
| Vòi vĩnh | Đòi cho bằng được | Nhấn vào việc đòi đồ, đòi quà |
| Mè nheo | Kêu ca, đòi dai dẳng | Nghiêng về lặp đi lặp lại, gây mệt |
| Õng ẹo | Làm điệu để người khác chú ý | Nói về dáng điệu, cử chỉ hơn là đòi hỏi |
Ở phía ngược lại là những từ như ngoan ngoãn, biết điều, tự lập, cứng cỏi. Muốn khen một đứa trẻ không nhõng nhẽo, người ta hay nói “con bé hiểu chuyện”, “thằng bé tự lo được”.
Một chỗ cần để ý khi viết: cả hai chữ đều dấu ngã. “Nhỏng nhẻo” với dấu hỏi là cách gõ sai hay gặp trên mạng, có lẽ do giọng miền Nam đọc hỏi và ngã giống nhau.
Tiếng Anh có chữ brat để chê đứa trẻ vòi vĩnh, và từ năm 2024 chữ ấy đổi màu thành trào lưu brat summer.
Nhõng nhẽo trong nhà, trong lớp và trong tin nhắn
Nhõng nhẽo nghĩa là gì khi nói về người yêu?
Là làm nũng, giả vờ dỗi để được người yêu dỗ dành, quan tâm. Ví dụ: “Cô ấy nhõng nhẽo đòi anh đón dù trời đã tạnh mưa.” Nói giữa hai người thì thường mang ý trêu, ít khi là chê thật.
Trẻ hay nhõng nhẽo thì bố mẹ nên làm gì?
Nhiều người chọn cách bình tĩnh, không chiều theo ngay khi trẻ khóc đòi, nhưng vẫn ôm và nói chuyện khi con đã nín. Nếu con thường quấy vì mệt hay ốm, hỏi ý kiến bác sĩ nhi khoa sẽ đáng tin hơn những mẹo truyền miệng.
Nhõng nhẽo và nũng nịu có giống nhau không?
Gần nghĩa, có thể thay cho nhau trong nhiều câu. Khác ở sắc thái: nũng nịu thiên về đáng yêu, nhõng nhẽo dễ mang ý chê là đòi hỏi, khó chiều.
Đặt câu với từ nhõng nhẽo thế nào?
Ví dụ: “Ở với ông bà một tuần, thằng bé về nhà nhõng nhẽo hẳn.” Hoặc trong bài văn tả em bé: “Mỗi sáng, bé lại nhõng nhẽo đòi chị cõng ra tận cổng.”