Mè nheo là động từ khẩu ngữ, chỉ kiểu nói đi nói lại, dai dẳng để nài xin, kêu ca hoặc trách móc, tới mức người nghe phát mệt. Trẻ con mè nheo đòi kẹo, người lớn mè nheo xin đổi lịch, khách hàng mè nheo đòi giảm giá. Người hay mè nheo thường bị gọi là “tính mè nheo”, chữ này mang ý chê nhẹ.
| Nghĩa ngắn | Nài nỉ, kêu ca dai dẳng làm người khác khó chịu |
| Loại từ | Động từ, thuần Việt, khẩu ngữ |
| Hay dùng cho | Trẻ nhỏ đòi quà; người lớn than phiền, xin xỏ mãi một chuyện |
| Sắc thái | Chê, hơi bực; nói với trẻ con thì có khi mang ý trìu mến |

Mè nheo là kiểu nói thế nào?
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, mè nheo là nói dai, nói nhiều, có khi để xin xỏ, có khi để than phiền hay trách cứ, đến mức người nghe bực mình. Bộ từ điển mở Việt – Việt của Hồ Ngọc Đức thì nhấn vào cái phiền: quấy nhiễu, rầy rà mãi để đòi một thứ gì đó.
Từ hai lời giảng có thể rút ra ba dấu hiệu của mè nheo:
- Lặp lại: một lời xin không phải mè nheo, xin đến lần thứ mười mới là.
- Mục đích: để được cái gì đó, hoặc để trút một nỗi không vừa ý.
- Tác động: người nghe thấy phiền, muốn chiều cho xong chuyện.
Nghe kĩ thì âm “eo” trong “nheo” như kéo dài giọng, gần với “nhèo nhẽo”, “lèo nhèo”, “nheo nhéo”. Có lẽ vì vậy mà chỉ đọc lên đã hình dung ra giọng nói vòi vĩnh, kéo lê thê. Đây không phải từ để khen; viết báo cáo hay văn bản trang trọng thì gần như không dùng.
Mè nheo, nhõng nhẽo và cằn nhằn khác nhau ra sao?
| Từ | Cốt lõi | Câu ví dụ |
|---|---|---|
| Mè nheo | Nài, kêu ca dai dẳng để đạt điều mình muốn | Thằng bé mè nheo đòi đi công viên |
| Nhõng nhẽo | Làm nũng quá mức, ỷ được cưng chiều | Lớn rồi còn nhõng nhẽo với mẹ |
| Cằn nhằn | Trách móc, càu nhàu, không nhằm xin gì | Bà cằn nhằn vì cháu để bừa đồ |
| Lải nhải | Nói mãi một chuyện, nghe nhàm tai | Lải nhải mãi chuyện cũ |
| Nằn nì | Năn nỉ khẩn khoản, nhẹ hơn, ít chê | Nằn nì xin mẹ cho nuôi mèo |
Hai từ dễ lẫn với mè nheo nhất là nhõng nhẽo và làm nũng. Nhõng nhẽo đòi được chiều dựa vào tình thương của người nghe, thường chỉ xảy ra với người thân. Mè nheo thì có thể nhắm vào bất kì ai, kể cả người bán hàng hay đồng nghiệp. Còn nũng nịu, cách làm nũng dễ thương thì chưa tới mức gây phiền. Riêng kiểu dỗi để người khác phải dỗ lại có tên riêng là làm mình làm mẩy với người thân.
Trái nghĩa với mè nheo là những cách nói dứt khoát: nói một lần cho rõ, chấp nhận câu trả lời, hoặc nhẫn nhịn không kêu ca.
Mè nheo trong nhà, ở lớp và nơi làm việc
Từ này đi vào nhiều tình huống khác nhau, sắc thái cũng đổi theo người nói:
- Trong nhà: Con mè nheo từ chiều đòi chơi điện thoại, mẹ vẫn kiên quyết không cho. (bực nhưng vẫn thương)
- Ở lớp: Cả nhóm mè nheo xin cô lùi hạn nộp bài thêm hai ngày. (đùa vui, tự nhận)
- Vợ chồng: Anh cứ mè nheo chuyện mua xe mãi, em nói rồi, cuối năm hẵng tính.
- Công sở: Khách mè nheo đòi giảm thêm, cửa hàng đành tặng kèm túi vải.
Ở nhà, khi trẻ đang mè nheo, nhiều cha mẹ chọn nói “không” một lần, giữ giọng bình tĩnh và không đổi ý giữa chừng. Nhượng bộ sau lần xin thứ mười dạy cho trẻ rằng cứ xin đủ lâu là được.
Mè nheo: chuyện chữ, chuyện dịch và chuyện yêu
Mè nheo có phải từ láy không?
Thường được xếp vào từ láy vì hai tiếng gắn với nhau bằng âm, tách riêng “mè” hay “nheo” không mang nghĩa này. Trong bài tập, có thể xếp mè nheo cùng nhóm với lèo nhèo, nhõng nhẽo.
Mè nheo tiếng Anh là gì?
Gần nhất là whine (rên rỉ kêu ca) hoặc nag (cằn nhằn, nài mãi). Với trẻ con đòi quà, có thể nói to pester someone for something.
Viết “mè nheo” hay “mè neo”?
Viết mè nheo, phụ âm đầu “nh”. “Mè neo” là viết sai, có lẽ vì nói nhanh nuốt mất âm.
Người yêu hay mè nheo có sao không?
Thỉnh thoảng mè nheo cho vui thì là một kiểu làm nũng. Nếu chuyện gì cũng nài mãi đến khi đối phương chịu thua, đó là lúc hai người nên nói thẳng với nhau về điều mình thật sự cần.