Lý tưởng sống là điều tốt đẹp, cao cả mà một người chọn làm đích đến lâu dài cho cả cuộc đời mình, đủ lớn để định hướng cách nghĩ, cách học, cách làm việc và đối xử với người khác. Hiểu gọn: lý tưởng trả lời câu hỏi “mình sống để làm gì”. Còn sống có lý tưởng là ngày thường cũng hành động theo hướng ấy, chứ không chỉ nói về nó.
| Nghĩa ngắn | Mục đích sống cao đẹp, lâu dài mà một người theo đuổi và lấy làm lẽ sống |
| Gốc từ | Hán Việt 理想: lý (lẽ phải, đạo lý) + tưởng (nghĩ, mong muốn) |
| Loại từ | Cụm danh từ; “lý tưởng” còn dùng làm tính từ (thời tiết lý tưởng) |
| Cách viết | Lý tưởng hoặc lí tưởng đều đúng, sách giáo khoa hiện nay hay dùng “lí” |

Lý tưởng sống khác chữ lý tưởng ở đâu?
Từ điển tiếng Việt xếp lý tưởng vào hai loại từ. Là danh từ, nó chỉ điều hoàn hảo nhất mà người ta khao khát, một ước vọng cao đẹp được thỏa mãn tới mức tuyệt đối. Là tính từ, nó có nghĩa là đạt tới mức tốt nhất (một chỗ cắm trại lý tưởng), hoặc chỉ cái thuần lý thuyết, chưa tính tới sai số thực tế, như khí lý tưởng trong giờ Vật lí.
Ghép thêm chữ “sống”, cụm từ chỉ còn giữ nét nghĩa danh từ và kéo nó về phía đời người. Lý tưởng sống không phải món đồ mình muốn có hay một kì thi muốn đỗ. Đó là cái hướng đi bao trùm, thứ khiến những mong muốn nhỏ hơn được xếp vào hàng: học ngành gì, chọn nghề nào, sẵn sàng bỏ qua điều gì.
Ví dụ đời thường:
- Cô ấy học y vì lý tưởng sống là chữa bệnh cho người ở vùng xa, lương thấp cũng không đổi ý.
- Thầy chủ nhiệm hay nói: tuổi mười bảy chưa cần biết chính xác lý tưởng sống của mình, nhưng nên bắt đầu tự hỏi.
理想: cái lẽ phải được nghĩ tới và mong tới
Chữ lý (理) vốn chỉ việc mài giũa ngọc theo đường vân của nó, rồi mở ra nghĩa đường vân, thớ, và sau cùng là lẽ phải, đạo lý. Từ cùng gốc có chân lý, đạo lý, lý lẽ, hợp lý. Chữ tưởng (想) gồm chữ tướng (相) trên chữ tâm (心), nghĩa là nghĩ, nhớ, và mong muốn; quen thuộc qua tư tưởng, mơ tưởng, tưởng tượng.
Ghép lại, 理想 là điều mình nghĩ tới và mong tới theo lẽ phải. Chính yếu tố “lẽ phải” ấy làm lý tưởng khác với tham vọng trần trụi: người ta có thể tham vọng giàu thật nhanh bằng mọi giá, nhưng ít ai gọi đó là lý tưởng. Muốn hiểu sâu hơn tầng triết lý phía sau, có thể đọc thêm bài quan niệm của mỗi người về cuộc đời.
Lý tưởng, ước mơ, mục tiêu, tham vọng: đặt cạnh nhau cho rõ
| Từ | Phạm vi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lý tưởng sống | Hướng đi cả đời, gắn với giá trị tốt đẹp, phục vụ cả người khác | Mang con chữ tới trẻ em vùng cao |
| Ước mơ | Điều mong có được, có thể rất riêng tư, không nhất thiết cao cả | Một ngày được đi Nhật ngắm hoa anh đào |
| Mục tiêu | Cái đích cụ thể, đo được, có hạn thời gian | Đạt 8 điểm Văn trong kì thi tuyển sinh |
| Tham vọng | Mong muốn rất lớn về địa vị, quyền lực, tiền bạc; sắc thái có khi tiêu cực | Tham vọng trở thành người giàu nhất tỉnh |
Ba từ đầu thường lồng vào nhau. Lý tưởng là mặt trời ở xa; các ước mơ và mục tiêu là những chặng đường đi về phía đó. Bài nghĩa của ước mơ so với hoài bão và bài cách đặt một cái đích cho rõ ràng tách riêng từng khái niệm kĩ hơn.
Từ gần nghĩa: lẽ sống, hoài bão, chí hướng. Trái nghĩa không có một từ cố định; người ta thường dùng các cụm như sống thiếu mục đích, sống buông xuôi, sống hoài sống phí.
Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ và “mặt trời chân lý” của Tố Hữu
Văn chương trung đại gọi lý tưởng bằng chữ “chí”. Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ nói gọn quan niệm của nhà nho về một đời đáng sống:
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
“Danh” ở đây không phải tiếng tăm cho riêng mình, mà là công trạng để lại cho đất nước, đúng tinh thần sống có lý tưởng của kẻ sĩ ngày xưa.
Sang thế kỉ XX, tập thơ Từ ấy mượn tên từ chính khoảnh khắc nhà thơ trẻ Tố Hữu tìm thấy lý tưởng: ông ví nó như ánh mặt trời rọi vào tim, làm cả tâm hồn bừng sáng. Học sinh lớp 11 có thể ôn lại văn bản ở trang bài thơ Từ ấy trong sách Ngữ văn 11; hình ảnh ấy hay được dẫn khi viết về sức mạnh của một lẽ sống đẹp.
Viết đoạn văn về lý tưởng sống của thanh niên: bốn ý nên có
Đề “Suy nghĩ về lý tưởng sống của thanh niên hôm nay” xuất hiện khá đều ở lớp 9 và lớp 12. Có thể dựng bài theo khung sau:
- Giải thích: lý tưởng sống là mục đích cao đẹp định hướng hành động; sống có lý tưởng là biến mục đích ấy thành việc làm hằng ngày.
- Vì sao cần: có lý tưởng thì biết mình đi đâu, ít chao đảo trước cám dỗ, có thêm sức chịu đựng lúc vấp ngã.
- Dẫn chứng gần: những bác sĩ trẻ tình nguyện về vùng khó khăn, những giáo viên cắm bản, các bạn trẻ khởi nghiệp làm nông sản sạch cho quê mình.
- Phê phán và bài học: lối sống buông xuôi, chạy theo hưởng thụ; lý tưởng không cần to tát, nhưng phải tốt cho mình và cho người.
Một bộ văn mẫu dùng được ngay cho dạng đề này là những bài nghị luận về lựa chọn của người trẻ. Nếu muốn thêm chiều sâu cảm xúc, có thể nối lý tưởng với chữ khát vọng vươn lên của tuổi trẻ.
Băn khoăn quanh chữ lý tưởng sống
Sống có lý tưởng là gì?
Là sống theo một mục đích tốt đẹp đã chọn và để nó chi phối việc làm hằng ngày. Ai sống có lý tưởng sẽ biết sắp xếp thời gian, dám từ chối những thứ làm mình lệch hướng, và vẫn giữ hướng đi khi gặp khó.
Lý tưởng sống của thanh niên ngày trước và bây giờ có khác nhau không?
Hoàn cảnh khác nên biểu hiện khác. Thế hệ thời chiến lấy độc lập dân tộc làm lẽ sống; người trẻ thời bình hướng tới học tập, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, bảo vệ môi trường. Điểm chung vẫn là sống có ích cho người khác.
Lý tưởng sống tiếng Anh là gì?
Thường dịch là ideal hoặc ideals in life; khi nhấn vào mục đích sống, người ta còn dùng life purpose. Ví dụ: He devoted his life to his ideals.
Viết “lý tưởng sống” hay “lí tưởng sống” mới đúng?
Cả hai đều đúng. Đây chỉ là khác biệt về cách ghi âm “i” và “y” sau phụ âm; sách giáo khoa hiện hành nghiêng về “lí”, còn báo chí và đời sống dùng “lý” nhiều hơn.