Nhân sinh quan là quan niệm có hệ thống của một người về cuộc đời: sống để làm gì, điều gì làm đời sống có ý nghĩa và nên sống ra sao. Nhân sinh quan thường được nhắc cùng thế giới quan và giá trị quan, ba khái niệm mà mạng xã hội gọi gọn là “tam quan”. Bài này giải nghĩa từ theo hướng phổ thông, dễ dùng khi làm văn.
| Nghĩa ngắn | Cách nhìn của một người về đời người, ý nghĩa và mục đích sống |
| Gốc từ | Hán Việt 人生觀: nhân sinh (đời người) + quan (cách nhìn) |
| Loại từ | Danh từ |
| Hay gặp trong | Sách triết học, giáo dục công dân, bài luận về lẽ sống |

Nhân sinh quan: ba chữ, một cách nhìn đời
Chữ nhân (人) là người, chữ sinh (生) là sống. Nhân sinh ghép lại là đời sống con người, cái quãng từ lúc sinh ra tới lúc mất đi.
Chữ thứ ba đáng chú ý hơn. Quan (觀) theo Thiều Chửu trước hết là xem, xem xét; rồi có nghĩa là ý thức, cách nhìn của mình về sự việc. Thiều Chửu dẫn luôn các từ lạc quan (coi là vui), bi quan (coi là buồn), chủ quan, khách quan. Vậy nhân sinh quan là “cách nhìn về đời người”. Cùng khuôn ấy có thế giới quan (cách nhìn về thế giới), giá trị quan (cách nhìn về giá trị), vũ trụ quan.
Nhân sinh quan qua những câu hỏi rất đời thường
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng nhân sinh quan là quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích sống của con người, kèm ví dụ “nhân sinh quan Phật giáo”. Chữ “thành hệ thống” quan trọng: một ý nghĩ thoáng qua chưa phải nhân sinh quan, phải là những niềm tin tương đối ổn định, nối với nhau và chi phối cách ta sống.
Nghe thì to tát, nhưng nhân sinh quan lộ ra qua những câu hỏi rất bình thường:
- Thành công với mình là có nhiều tiền, có nhiều bạn, hay được làm việc mình thích?
- Có nên đánh đổi sức khỏe để lấy thêm một danh hiệu?
- Sống cho bản thân trước, hay sống cho người khác trước?
- Khi gặp chuyện buồn, đời là thứ phải chịu đựng hay là thứ đáng trải nghiệm?
Hai người cùng học một lớp có thể trả lời rất khác nhau, vì nhân sinh quan được hình thành từ gia đình, nhà trường, sách vở, tín ngưỡng và những gì mỗi người đã trải qua. Nó cũng đổi theo tuổi: điều làm ta thấy đáng sống năm mười lăm tuổi chưa chắc còn nguyên ở tuổi ba mươi. Cách mỗi người định nghĩa hai chữ hạnh phúc là một mảnh rõ nét của nhân sinh quan; có lúc mảnh ấy lung lay, người ta rơi vào những ngày hoài nghi ý nghĩa đời mình.
- Ông nội em có nhân sinh quan giản dị: sống sao cho con cháu khỏi phải xấu hổ.
- Đọc nhiều sách hay có thể thay đổi nhân sinh quan của một người trẻ.
Đặt nhân sinh quan cạnh thế giới quan và giá trị quan
| Khái niệm | Trả lời câu hỏi | Ví dụ một niềm tin |
|---|---|---|
| Thế giới quan | Thế giới là gì, vận hành ra sao, con người đứng ở đâu? | Mọi chuyện xảy ra đều có nguyên nhân có thể tìm hiểu. |
| Nhân sinh quan | Đời người để làm gì, sống thế nào là đáng? | Sống có ích cho người khác mới là sống trọn. |
| Giá trị quan | Điều gì đáng quý hơn điều gì? | Trung thực quý hơn điểm cao. |
Từ điển Hoàng Phê giảng thế giới quan là tổng thể quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Thế giới quan rộng nhất, nhân sinh quan thu về đời người, giá trị quan là thước đo khi phải chọn. Ba lớp này đan vào nhau, nên mạng xã hội gom chung thành bộ ba thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan. Triết học là môn bàn kỹ nhất về những câu hỏi này, đọc thêm triết học giải đáp những thắc mắc nào của con người.
Những từ gần: quan niệm sống (nói thường), lẽ sống (điều làm nên mục đích sống), lý tưởng (mục đích cao đẹp muốn đạt tới), triết lý sống. Lối sống thì khác: đó là cách sống thể hiện ra bên ngoài, còn nhân sinh quan là quan niệm nằm phía sau. Nhân sinh quan không có từ trái nghĩa; người ta chỉ nói nhân sinh quan tích cực hay tiêu cực, rõ ràng hay mơ hồ.
Dùng chữ nhân sinh quan trong bài văn cho trúng
Trong bài nghị luận về lẽ sống, lý tưởng hay ước mơ, chữ này giúp câu văn gọn hơn, nhưng dễ dùng quá đà. Ba lưu ý:
Một, đừng dùng cho chuyện nhỏ. “Nhân sinh quan của em về món ăn sáng” nghe gượng; đó chỉ là sở thích. Hai, đừng lẫn với thế giới quan: nói về cách hiểu tự nhiên, vũ trụ thì là thế giới quan. Ba, đi kèm dẫn chứng. Viết “nhân vật có nhân sinh quan tích cực” rồi dừng thì người đọc chưa thấy gì; phải chỉ ra nhân vật ấy sống vì điều gì, chọn gì khi khó khăn. Nếu thấy chữ nặng nề, cứ thay bằng “quan niệm sống”, câu văn vẫn đúng mà tự nhiên hơn.
Nhân sinh quan và mấy câu hỏi đi kèm
Nhân sinh quan và thế giới quan khác nhau thế nào?
Thế giới quan là cách nhìn toàn bộ thế giới, cả tự nhiên lẫn xã hội. Nhân sinh quan hẹp hơn, chỉ bàn về đời người: sống để làm gì và sống ra sao. Thế giới quan của một người thường ảnh hưởng tới nhân sinh quan của họ.
Nhân sinh quan tích cực là gì?
Là cách nhìn đời giúp một người sống có mục đích, biết trân trọng bản thân và người khác, đứng dậy được sau vấp ngã. Tích cực không có nghĩa là lúc nào cũng vui, mà là không buông xuôi.
Nhân sinh quan có thay đổi được không?
Có. Nó hình thành dần qua giáo dục và trải nghiệm, nên một biến cố lớn, một người thầy, một cuốn sách đều có thể làm nó đổi hướng. Người trẻ thường điều chỉnh nhân sinh quan nhiều lần trước khi ổn định.
Tam quan có phải là nhân sinh quan không?
Không hẳn. Tam quan là cách gọi gộp ba quan niệm, trong đó nhân sinh quan chỉ là một phần, cùng với thế giới quan và giá trị quan.