Ước mơ là điều tốt đẹp mà một người mong muốn tha thiết sẽ có được hoặc làm được trong tương lai; dùng như động từ, nó chỉ chính việc mong mỏi ấy. Ước mơ có thể nhỏ như một chiếc xe đạp mới, cũng có thể lớn như trở thành bác sĩ cho vùng núi. Còn “ước” đứng một mình thì hẹp hơn: thường là mong điều khó thành.
| Nghĩa ngắn | Điều mong muốn tốt đẹp hướng về tương lai, và hành động mong mỏi điều ấy |
| Loại từ | Danh từ (ước mơ của em) và động từ (em ước mơ được bay) |
| Đồng nghĩa | Mơ ước, mong ước, ước mong, ước vọng |
| Sắc thái | Tích cực, nhẹ nhàng, gần với tuổi thơ và tuổi trẻ |

Từ điển giải nghĩa ước mơ ra sao?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) không giải nghĩa riêng ước mơ mà ghi “như mơ ước”, tức hai từ chỉ đảo chỗ cho nhau, nghĩa không đổi. Ở mục mơ ước, từ điển tách hai nét:
- Động từ: mong muốn, ước ao một cách thiết tha điều tốt đẹp trong tương lai. Ví dụ: Hồi nhỏ, chị tôi ước mơ được đi học ở thành phố.
- Danh từ: chính điều tốt đẹp mà người ta mong ấy. Ví dụ: Căn nhà có vườn là ước mơ lớn nhất của bố mẹ.
Hai chữ ghép lại khá đẹp. Ước là mong, mơ là thấy trong giấc ngủ hay trong tưởng tượng. Ước mơ vì thế là cái mong đã được nhìn thấy trong đầu, có hình ảnh, có màu sắc, chứ không mơ hồ như một ý muốn thoáng qua.
Ước là gì khi đứng một mình?
Động từ ước theo từ điển là mong có được điều mà mình biết là rất khó, hoặc không có thật. Đó là lí do truyện cổ tích đầy những “điều ước”: ông tiên cho ba điều ước, cô bé ước có đôi giày. Câu tục ngữ cầu được ước thấy nói về người gặp may, mong gì được nấy, đúng vì chuyện ấy hiếm. Cũng có khi ta “ước” cho vui, biết chẳng thành: Ước gì mai được nghỉ học!
Khác với ước, ước mơ không nhất thiết là điều bất khả. Nó là đích đến người ta có thể bắt tay vào làm. Ngoài ra, “ước” còn hai nghĩa khác hẳn: hẹn với nhau (lời ước, ước hẹn) và đoán chừng (sản lượng ước đạt).
Ước mơ, hoài bão, mộng tưởng: ba sắc độ của cái mong
Đứng gần ước mơ có cả một nhóm từ. Chúng giống nhau ở chỗ hướng về tương lai, khác nhau ở độ lớn và độ thực tế.
| Từ | Nghĩa | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Ước mơ | Điều tốt đẹp mong có được | Gần gũi, cỡ nào cũng được | ước mơ làm cô giáo |
| Hoài bão | Điều lớn lao ấp ủ trong lòng, muốn làm | Trang trọng, gắn với chí lớn | hoài bão xây dựng quê hương |
| Khát vọng | Mong muốn mãnh liệt | Mạnh, cháy bỏng | khát vọng tự do |
| Lí tưởng | Mục đích cao đẹp, định hướng cả cuộc đời | Nghiêm, mang màu đạo đức | lí tưởng sống của tuổi trẻ |
| Mộng tưởng | Điều mong quá cao xa, chỉ có trong tưởng tượng | Hơi chê, xa thực tế | sống trong mộng tưởng |
Một mẹo nhỏ: nếu có thể nói “ấp ủ” thì dùng hoài bão; nếu muốn chê ai viển vông thì dùng mộng tưởng hay ảo tưởng. Ghi nhớ thêm: viết là hoài bão (dấu ngã), không phải “hoài bảo” — xem bài hoài bão viết dấu gì.
Trái nghĩa với sống có ước mơ là sống an phận, buông xuôi, không mục đích. Còn tuyệt vọng là khi ước mơ đã bị dập tắt hoàn toàn.
Muốn biết ước mơ đổi được cho mơ ước, mong ước hay ước vọng ở những câu nào, có thể đọc thêm đồng nghĩa, trái nghĩa với ước mơ.
Với dạng đảo mơ ước, bảng từ thay theo vai động từ hay danh từ trong câu nằm ở các từ thay cho mơ ước.
Những que diêm và ước mơ nhỏ của một em bé
Trong văn học, hình ảnh ước mơ được nhiều thế hệ học trò nhớ nhất có lẽ là truyện Cô bé bán diêm của Hans Christian Andersen, nhà văn Đan Mạch (1805–1875). Đêm giao thừa, em bé nghèo không bán được bao diêm nào, ngồi nép vào góc tường và quẹt từng que để sưởi. Mỗi que diêm mở ra một ước mơ: một lò sưởi ấm, một bàn ăn có ngỗng quay, một cây thông Nô-en lộng lẫy, và cuối cùng là người bà đã mất. Các ước mơ đi từ cái ấm, cái no của thân thể đến điều sâu nhất là được yêu thương.
Sáng mùng một, người ta thấy em chết cóng, đôi má hồng và miệng mỉm cười. Ước mơ ở đây vừa đẹp vừa xót xa: chúng chỉ sống được trong ánh lửa vài giây. Học sinh lớp 6 có thể đọc thêm bố cục và nội dung truyện của An-đéc-xen hay bài phân tích em bé quẹt diêm đêm giao thừa.
Ở bậc tiểu học, bài thơ Nếu chúng mình có phép lạ lại cho thấy kiểu ước mơ hồn nhiên của trẻ con: muốn cây mau ra quả, muốn trái bom thành trái ngon. Lên lớp 11, văn bản soạn bài diễn văn Tôi có một ước mơ đưa chữ ước mơ lên tầm khát vọng về bình đẳng cho cả một cộng đồng.
Viết về ước mơ: từ đoạn văn lớp 4 đến bài nghị luận
Đề “kể về ước mơ của em” có mặt từ lớp 3, lớp 4. Ở tuổi này, chỉ cần trả lời ba ý: em mơ điều gì, vì sao, và em sẽ làm gì để đến gần nó. Bài Bốn mùa mơ ước trong sách lớp 4 có phần luyện nói theo đúng gợi ý ấy.
Lên THCS, THPT, đề nghị luận hỏi sâu hơn: “Suy nghĩ về ý nghĩa của ước mơ”, “Tuổi trẻ và ước mơ”. Một khung ý gọn:
- Giải thích: ước mơ là mong muốn tốt đẹp hướng tới tương lai; sống có ước mơ là có đích để đi.
- Vì sao cần: ước mơ cho ta động lực khi mệt mỏi, giúp chọn việc nên làm hôm nay. Người không biết mình muốn gì dễ trôi theo người khác.
- Bàn mở rộng: ước mơ khác mộng tưởng; mơ mà không làm thì chỉ là ước. Cũng không nên chạy theo ước mơ của người khác, kể cả của bố mẹ, nếu nó không thật sự là của mình.
- Bài học: chia ước mơ lớn thành những bước nhỏ, kiên nhẫn từng ngày.
Có thể tham khảo mẫu 12 bàn về sống có ước mơ qua nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong tuyển văn nghị luận đạo lí cho học sinh lớp 8. Ai thích thơ có thể đọc thêm những bài thơ tiếp sức cho người theo đuổi mục tiêu.
Học trò hay hỏi gì về chữ ước mơ?
Ước mơ và mơ ước khác nhau không?
Không. Từ điển giải nghĩa ước mơ là “như mơ ước”, hai từ dùng thay nhau được cả khi là danh từ lẫn động từ. Trong văn viết, “ước mơ” hay làm danh từ hơn, “mơ ước” hay làm động từ hơn, nhưng đó chỉ là thói quen.
Ước là gì và khác ước mơ chỗ nào?
“Ước” là mong có được điều biết là rất khó hoặc không thể có, như điều ước trong cổ tích. Ước mơ thì có thể thực hiện được bằng cố gắng; nó là đích đến, không phải phép màu.
Ước mơ tiếng Anh là gì?
Thường dịch là dream (ước mơ của em: my dream). Khi nhấn vào chí lớn, tiếng Anh dùng aspiration hoặc ambition, gần với hoài bão.
Ước mơ có cần phải lớn lao?
Không cần. Muốn đọc hết một bộ truyện, muốn bơi được năm mươi mét cũng là ước mơ. Ước mơ nhỏ mà làm được thường là bậc thang để đi tới ước mơ lớn hơn.