Cơ sở lý luận là phần nền tảng lý thuyết của một đề tài: các khái niệm, học thuyết và kết quả nghiên cứu đã có mà người viết dựa vào để giải thích và lập luận cho vấn đề mình bàn. Trong luận văn, khóa luận, tiểu luận hay sáng kiến kinh nghiệm, nó trả lời câu hỏi “mình đứng trên nền kiến thức nào”. Nhiều tài liệu gọi đây là cơ sở lý thuyết hoặc khung lý thuyết.
| Nghĩa ngắn | Hệ thống khái niệm, lý thuyết làm chỗ dựa cho một nghiên cứu |
| Cấu tạo | Cơ sở (nền tảng) + lý luận (tri thức đã được khái quát, hệ thống hóa) |
| Loại từ | Cụm danh từ |
| Hay gặp ở | Chương đầu luận văn, khóa luận, đề tài khoa học, báo cáo nghiên cứu |

Tách chữ để hiểu cơ sở lý luận
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng cơ sở là cái làm nền tảng cho những gì được xây dựng hoặc dựa vào đó mà tồn tại, phát triển. Ví dụ quen tai: cơ sở vật chất, lời buộc tội không có cơ sở. Cũng từ điển ấy giảng lí luận (viết lý luận đều được) là hệ thống tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, và rộng hơn là những kiến thức đã được khái quát, hệ thống hóa trong một lĩnh vực, như lí luận văn học.
Ghép lại, cơ sở lý luận là phần kiến thức đã được hệ thống hóa, đặt dưới chân đề tài như cái móng đặt dưới ngôi nhà. Không có nó, người đọc không biết các khái niệm trong bài được hiểu theo nghĩa nào, các nhận định dựa vào đâu.
Lưu ý một nét nghĩa khác: trong khẩu ngữ, “lý luận” còn là động từ, nghĩa là nói lý lẽ dài dòng, thường hàm ý chê (“chỉ giỏi lý luận”). Nghĩa ấy không liên quan đến cụm cơ sở lý luận.
Riêng chữ cơ sở còn đi vào nhiều cụm quen như trên cơ sở, cấp cơ sở; cách dùng từng cụm có ở bài về nghĩa chữ cơ sở 基礎.
Phần cơ sở lý luận của một đề tài thường có gì
Mỗi ngành có cách trình bày riêng, nhưng phần này thường gồm bốn mảng:
- Khái niệm then chốt: định nghĩa những từ khóa của đề tài, có dẫn nguồn và nói rõ bài dùng định nghĩa nào.
- Lý thuyết nền: học thuyết, mô hình được dùng làm khung để phân tích.
- Tổng quan nghiên cứu đi trước: những ai đã làm gì, kết quả ra sao, còn khoảng trống nào để đề tài của mình lấp vào.
- Khung phân tích của chính đề tài: từ lý thuyết rút ra các tiêu chí, biến số sẽ dùng ở phần khảo sát.
Lấy ví dụ một đề tài nhỏ của học sinh: “Thói quen đọc sách của học sinh lớp 10 ở trường em”. Cơ sở lý luận sẽ nói rõ “thói quen đọc” được hiểu thế nào, đọc sách giấy và đọc trên mạng có được tính chung không, những khảo sát trước đó đã đo việc đọc bằng tiêu chí gì. Phần số liệu phát phiếu hỏi, phỏng vấn bạn bè thì thuộc về thực tiễn, nằm ở chương sau. Cách viết một báo cáo kiểu này có trong bài mẫu báo cáo kết quả nghiên cứu lớp 12.
Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý
| Khái niệm | Trả lời câu hỏi | Gồm những gì |
|---|---|---|
| Cơ sở lý luận | Dựa trên nền kiến thức nào? | Khái niệm, học thuyết, mô hình, nghiên cứu đã công bố |
| Cơ sở thực tiễn | Thực tế đang diễn ra thế nào? | Số liệu khảo sát, thực trạng, kinh nghiệm thực tế |
| Cơ sở pháp lý | Căn cứ vào văn bản nào? | Luật, nghị định, thông tư, chính sách liên quan |
| Tổng quan tài liệu | Người khác đã nghiên cứu đến đâu? | Điểm lại công trình đi trước; thường là một phần của cơ sở lý luận |
Lỗi hay gặp là chép một loạt văn bản luật vào phần cơ sở lý luận, hoặc ngược lại, đem số liệu khảo sát đặt lên trước khi định nghĩa xong khái niệm. Lý luận và thực tiễn đi cặp với nhau: lý luận soi đường cho việc khảo sát, còn số liệu thực tế thì kiểm lại lý luận. Mối quan hệ ấy được giải thích ở bài thực tiễn đặt cạnh lý luận. Từ dễ nhầm nữa là cơ sở lý thuyết; trong đa số tài liệu, hai cụm được dùng thay nhau.
Viết phần này sao cho khỏi thành bản chép định nghĩa
- Chỉ đưa vào những khái niệm thật sự dùng đến ở các chương sau.
- Mỗi định nghĩa trích phải ghi nguồn; nếu các tác giả hiểu khác nhau, nói rõ bài chọn cách hiểu nào và vì sao.
- Viết lại bằng lời mình, có câu nối giữa các lý thuyết, đừng xếp chúng thành danh sách rời rạc.
- Cuối phần nên có một đoạn chốt: từ các lý thuyết trên, đề tài sẽ xem xét vấn đề theo những tiêu chí nào.
Với học sinh mới làm quen, bài đặc điểm của một bài tiểu luận giúp hình dung bố cục chung trước khi đi vào phần lý thuyết.
Băn khoăn quanh cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận tiếng Anh là gì?
Thường dịch là theoretical framework (khung lý thuyết) hoặc theoretical basis, theoretical background. Phần tổng quan tài liệu đi kèm gọi là literature review.
Cơ sở lý luận nằm ở chương mấy của luận văn?
Phần lớn luận văn, khóa luận ở Việt Nam đặt nó ở chương 1, ngay sau phần mở đầu. Tuy vậy mỗi trường có mẫu riêng, nên cần xem quy định trình bày của nơi mình nộp bài.
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn khác nhau thế nào?
Cơ sở lý luận là phần kiến thức, lý thuyết làm nền; cơ sở thực tiễn là phần thực trạng, số liệu, kinh nghiệm thực tế liên quan đến đề tài. Một đề tài tốt cần cả hai và cho chúng soi chiếu nhau.
Viết “cơ sở lí luận” hay “cơ sở lý luận”?
Cả hai cách đều được chấp nhận. Sách giáo khoa và nhiều từ điển dùng “lí”, văn bản hành chính và báo chí hay dùng “lý”; chỉ cần thống nhất một cách trong cùng một bài.