Lòng biết ơn là tình cảm hiểu và ghi nhớ công ơn người khác đã dành cho mình, rồi muốn đáp lại bằng lời nói, việc làm. Ai hỏi ngắn “biết ơn là gì” thì câu trả lời gọn nhất là: nhận ra điều tốt mình đang có không tự nhiên mà đến. Đây cũng là đề tài lòng biết ơn nghị luận rất hay gặp ở lớp 7, lớp 8.
| Nghĩa ngắn | Hiểu và ghi nhớ công ơn người khác đối với mình |
| Loại từ | “Biết ơn” là động từ; “lòng biết ơn” là cụm danh từ |
| Từ Hán Việt tương đương | tri ân (知恩), hàm ơn, hàm ân |
| Trái nghĩa | vô ơn, bội ơn, vong ân, bội bạc |
| Tiếng Anh | gratitude |

Lòng biết ơn: biết món nợ không ghi sổ
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng biết ơn là hiểu và ghi nhớ công ơn của người khác đối với mình, với ví dụ tỏ lòng biết ơn, biết ơn cha mẹ. Còn ơn là điều tốt người khác mang lại cho mình mà bản thân thấy cần phải đền đáp.
Đọc kỹ thì thấy biết ơn có ba bước. Trước hết là nhận ra: bữa cơm, cuốn vở, con đường đến trường đều có người làm nên. Sau đó là nhớ, nhớ cả khi việc đã qua lâu. Cuối cùng là muốn đáp lại, dù chỉ bằng một lời cảm ơn đúng lúc. Thiếu bước đầu, người ta coi mọi thứ là đương nhiên. Thiếu bước cuối, lòng biết ơn chỉ nằm im trong bụng.
Ví dụ: Cả lớp góp tiền mua bó hoa nhỏ, viết tấm thiệp biết ơn bác bảo vệ đã giữ xe cho cả trường suốt mười năm.
Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Người Việt nói về lòng biết ơn nhiều nhất qua tục ngữ, và hai câu sau gần như ai cũng thuộc.
Uống nước nhớ nguồn. Nghĩa đen: ngụm nước mát mình uống chảy về từ một mạch nguồn xa. Nghĩa bóng: nhớ đến cội rễ, đến ông bà, cha mẹ, quê hương và những người đã giúp mình lớn lên. Wiktionary tiếng Việt xếp câu này vào thành ngữ, giảng đúng theo nghĩa bóng ấy.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Không ai trồng thì không có cây, không có cây thì chẳng có quả. “Quả” là thành quả mình đang hưởng; “kẻ trồng cây” là người đã bỏ công làm ra nó, có khi từ nhiều đời trước. Câu này có trong nhiều đề nghị luận của chương trình Ngữ văn.
Hai câu khác nhau ở chỗ nhìn. Câu đầu nhìn về cội nguồn, câu sau nhìn vào công sức. Muốn đọc thêm những câu cùng chủ đề có giải nghĩa, xem tuyển ca dao, tục ngữ nói về ơn nghĩa.
Nghĩa đen, nghĩa bóng và những câu tục ngữ cùng ý của vế đầu được gom lại trong phần giải thích câu uống nước nhớ nguồn.
Tri ân, cảm ơn, vô ơn, bội bạc: đâu là chữ đúng ý
| Từ | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Biết ơn | Hiểu và ghi nhớ công ơn người khác | Trung tính, dùng được mọi chỗ |
| Tri ân | Biết ơn (知 tri: biết, 恩 ân: ơn) | Từ điển ghi là từ cũ; nay hay gặp trong lễ, thư cảm tạ: “lễ tri ân thầy cô” |
| Cảm ơn | Lời nói bày tỏ sự biết ơn | Là một hành động, có thể chỉ là phép lịch sự |
| Vô ơn | Không nghĩ gì đến công ơn người khác đối với mình | Khẩu ngữ, chê trách; gần nghĩa: bội ơn, vong ân |
| Bội bạc | Không nhớ ơn nghĩa, còn làm điều sai trái, không xứng với tình nghĩa | Nặng hơn vô ơn: đã quên còn quay lưng |
Chỗ dễ nhầm nhất là giữa cảm ơn và biết ơn. Người ta buột miệng “cảm ơn” theo phản xạ khi nhận ly nước; biết ơn thì cần thời gian để thấm. Ngược lại, có người ít nói lời cảm ơn mà vẫn nhớ ơn suốt đời. Vô ơn và bội bạc cũng không ngang nhau: kẻ vô ơn chỉ là quên, kẻ bội bạc thì làm hại chính người từng giúp mình.
Lòng biết ơn hay đi cùng một tình cảm khác là sự thương xót trước nỗi khổ người khác: một người biết ơn thường cũng dễ động lòng thương.
Những từ cùng nghĩa như tri ân, nhớ ơn và các mức trái nghĩa từ vô ơn đến bội bạc được xếp lại trong bài từ đồng nghĩa, trái nghĩa với biết ơn.
Lời cảm ơn còn là một trong bốn câu nói của Ho'oponopono và bốn câu nói, cách người Hawaii dùng để hòa giải với chính mình.
Viết bài nghị luận về lòng biết ơn: khung ý và dẫn chứng gần
Đề thường gặp: “Suy nghĩ về lòng biết ơn”, “Bàn về câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Khung dưới đây đủ cho một bài 1–2 trang.
- Giải thích: biết ơn là ghi nhớ công ơn và muốn đáp đền; nếu đề cho câu tục ngữ, giảng nghĩa đen trước, nghĩa bóng sau.
- Vì sao phải biết ơn: không thành quả nào tự có; người biết ơn sống ấm áp, được người khác tin và thương; một cộng đồng nhớ ơn thì giữ được truyền thống.
- Biểu hiện: chăm sóc ông bà, cha mẹ; ngày 20/11 nhớ thầy cô cũ; giữ gìn di tích, thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ; một lời cảm ơn tử tế với cô lao công.
- Phê phán: thói coi mọi sự hi sinh của cha mẹ là đương nhiên; cả kiểu biết ơn hình thức, chỉ để chụp ảnh đăng mạng.
- Bài học: biết ơn bằng việc làm cụ thể, bắt đầu từ người gần nhất.
Tham khảo cách triển khai ở mẫu Uống nước nhớ nguồn trong tuyển văn đạo lí lớp 8, bài viết từ chuyện những người thợ cả.
Điều học sinh hay hỏi về lòng biết ơn
Biết ơn là gì, khác “lòng biết ơn” ở đâu?
Cùng một nghĩa. “Biết ơn” là động từ (biết ơn thầy cô), “lòng biết ơn” gọi tình cảm ấy như một phẩm chất (bày tỏ lòng biết ơn).
Từ trái nghĩa với biết ơn là gì?
Hay dùng nhất là vô ơn; ngoài ra có bội ơn, vong ân, nặng hơn là bội bạc, vong ân bội nghĩa.
Tri ân có phải đồng nghĩa với biết ơn không?
Có. Tri ân là từ Hán Việt, nghĩa là biết ơn, nhưng trang trọng hơn và hay dùng trong lễ nghi, như “lễ tri ân cuối cấp”. Nói chuyện thường ngày thì “biết ơn” tự nhiên hơn.
Thể hiện lòng biết ơn thế nào cho khỏi gượng?
Nói cụ thể điều mình biết ơn (“Con cảm ơn mẹ đã thức đón con hôm thi”) thay vì câu chung chung. Kèm một việc nhỏ đúng lúc người kia cần, thế là đủ.