Tri ân là biết ơn và ghi nhớ công ơn người khác dành cho mình, thường kèm một lời nói hay việc làm để bày tỏ lòng ấy. Hỏi “tri ân nghĩa là gì” thì cứ hiểu gọn: đó là chữ biết ơn được nói theo lối trang trọng, hay gặp trong thư cảm ơn, lễ tri ân thầy cô, chương trình tri ân khách hàng.
| Nghĩa ngắn | Biết ơn, ghi nhớ ơn nghĩa và bày tỏ lòng cảm kích |
| Gốc từ | Hán Việt 知恩: tri (biết) + ân (ơn) |
| Loại từ | Động từ (theo Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê); hay đứng trước danh từ: lễ tri ân, thư tri ân |
| Sắc thái | Trang trọng, hơi cổ; dùng trong văn viết, nghi lễ |

Tri ân trong từ điển: biết ơn nói theo lối trang trọng
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng tri ân rất ngắn: biết ơn, kèm nhãn từ cũ và ví dụ tỏ lòng tri ân. Wiktionary tiếng Việt cũng giảng là biết ơn, lấy dẫn chứng từ Truyện Kiều. Nhãn “từ cũ” giải thích vì sao chữ này nghe trịnh trọng: người ta ít khi buột miệng “tớ tri ân cậu” với bạn cùng bàn, nhưng lại viết “xin gửi lời tri ân” trong một lá thư cảm ơn.
Vài cách dùng quen thuộc:
- Buổi lễ tri ân thầy cô của khối 12 diễn ra sau tiết chào cờ.
- Cuối cuốn sách, tác giả dành một trang để tri ân những người đã giúp mình sưu tầm tư liệu.
- Cửa hàng tặng phiếu giảm giá để tri ân khách quen.
Để ý sẽ thấy tri ân hiếm khi đứng một mình như một cảm xúc thầm kín. Nó thường gắn với hành động hướng ra ngoài: một buổi lễ, một món quà, một dòng chữ. Đấy cũng là chỗ tri ân hơi khác biết ơn.
Vì “tr” và “ch” ở nhiều vùng đọc gần nhau nên có người gõ thành chi ân; cách viết đúng có trong bài phân biệt chi ân với tri ân.
知 là biết, 恩 là ơn: hai chữ làm nên tri ân
Chữ tri (知) Thiều Chửu giảng là biết: mọi điều lòng mình nhận ra, phân biệt, ghi nhớ được đều gọi là tri. Họ hàng của nó rất quen: tri thức, tri giác, tri kỷ (người biết mình), tri âm.
Chữ ân (恩) nghĩa là ơn, cái mà người khác thương mình nên giúp đỡ, ban cho. Từ cùng gốc có ân nhân, ân huệ, ân tình, ân nghĩa, vong ân, và đặc biệt báo ân (報恩), tức đền ơn.
Ghép lại, tri ân là “biết cái ơn”. Chữ “biết” ở đây không phải biết như biết một con số. Nó là nhận ra mình đã được nhận, rồi giữ điều đó trong lòng. Ông bà ta có sẵn một câu ngắn hơn mà cùng ý: ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Thêm chữ 特 phía trước, ta có chữ đặc ân, cái ơn riêng ban cho một người hay một nhóm và rất dễ bị lẫn với đặc quyền.
Tri ân, biết ơn, báo ân: ba bậc của một tấm lòng
| Từ | Nghĩa chính | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Biết ơn | Nhận ra và ghi nhớ điều tốt người khác làm cho mình | Thuần Việt, dùng được mọi lúc | Con biết ơn bố mẹ |
| Tri ân | Biết ơn, và thường bày tỏ ra bằng lời hay việc | Trang trọng, hơi cổ | Thư tri ân gửi các nhà tài trợ |
| Báo ân (đền ơn) | Làm một việc để trả lại ơn đã nhận | Văn chương, nặng về hành động | Báo ân người cưu mang mình |
| Vong ân (vô ơn, bội bạc) | Quên ơn, thậm chí quay lưng với người giúp mình | Chê nặng | Kẻ vong ân bội nghĩa |
Có thể hình dung ba từ đầu như ba bậc. Biết ơn nằm ở trong lòng. Tri ân là khi lòng biết ơn được nói ra, viết ra. Báo ân đi xa nhất: đem việc làm ra đáp lại, có khi mất cả đời. Từ điển Hoàng Phê ghi báo ân là từ văn chương, cùng nghĩa với báo ơn. Một người có thể biết ơn mà chưa có dịp báo ân; nhưng đã tri ân thì ít ra phải có một lời gửi tới người kia.
Ai cần đi sâu vào khía cạnh đạo lí có thể đọc bài giải nghĩa chữ lòng biết ơn, có cả gợi ý cho bài văn nghị luận. Còn kho câu ông bà dạy về ơn nghĩa thì gom ở trang ca dao, tục ngữ dạy nhớ ơn.
Một câu Truyện Kiều có chữ tri ân
Truyện Kiều có đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán: người từng giúp nàng thì được đền đáp, kẻ từng hại nàng thì phải đền tội. Xong việc, Kiều lạy tạ Từ Hải vì nhờ chàng mà nàng được trả nghĩa trả thù. Từ Hải gạt đi:
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ mới là tri ân.
“Lọ là” nghĩa là cần gì, hà tất. Ý của Từ Hải: chuyện của nàng cũng là chuyện nhà ta, đâu cần cảm tạ sâu nặng mới gọi là biết ơn. Câu thơ thú vị ở chỗ đặt cạnh nhau cả hai chữ báo ân và tri ân trong cùng một cảnh. Kiều báo ân những người cũ, còn Từ Hải thì từ chối được người khác tri ân. Muốn đọc kĩ hơn về tác giả, xem cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du.
Những dịp người Việt hay nói lời tri ân
Với học sinh, dịp quen nhất là ngày 20/11, Ngày Nhà giáo Việt Nam. Lớp nào cũng có bông hoa, tấm thiệp, vài câu thơ chép tay gửi thầy cô. Nếu đang tìm lời cho tấm thiệp, có thể tham khảo những bài thơ ngắn tặng thầy cô. Lễ tốt nghiệp, lễ trưởng thành cũng thường có phần tri ân cha mẹ.
Ngoài nhà trường, chữ này xuất hiện nhiều trong kinh doanh (“tri ân khách hàng” là tặng quà, ưu đãi cho khách quen) và trong các hoạt động hướng về người có công. Dù dùng ở đâu, một lời tri ân có sức nặng khi nói đúng điều mình được nhận, chẳng hạn “Cảm ơn cô đã kèm em môn Toán suốt học kì”, hơn là một câu chung chung.
Tri ân: vài câu hỏi khi viết thiệp, viết thư
Tri ân và biết ơn khác nhau thế nào?
Nghĩa gần như trùng nhau. Biết ơn là từ thuần Việt, nói được ở mọi hoàn cảnh; tri ân là từ Hán Việt trang trọng, thường gắn với việc bày tỏ ra ngoài như lễ, thư, quà.
Tri ân là động từ hay danh từ?
Từ điển Hoàng Phê xếp tri ân là động từ (tri ân thầy cô). Trong các cụm như lễ tri ân, lời tri ân, nó đứng sau danh từ để bổ nghĩa, nên nhiều người tưởng là danh từ.
Báo ân là gì, có giống tri ân không?
Báo ân là đền ơn, làm việc cụ thể để trả lại ơn đã nhận. Tri ân dừng ở mức biết ơn và nói lên lòng biết ơn; báo ân thì phải có hành động đáp lại.
Tri ân tiếng Anh là gì?
Thường dịch là gratitude (lòng biết ơn) hoặc appreciation. “Tri ân khách hàng” hay được dịch là customer appreciation.