Lời người kể chuyện là phần lời dùng để thuật lại sự việc, tả cảnh, tả người và đôi khi bình luận về câu chuyện; còn lời nhân vật là những gì chính nhân vật nói ra hoặc nghĩ thầm, dưới dạng đối thoại hay độc thoại. Trong một trang truyện, hai lớp lời này đan vào nhau, và đề đọc hiểu từ lớp 6 trở lên rất hay yêu cầu tách chúng ra.
| Khái niệm | Hai lớp lời cấu thành văn bản truyện: lời kể và lời của người trong truyện |
| Lời người kể chuyện | Kể việc, tả cảnh, giới thiệu nhân vật, nhận xét, bình luận |
| Lời nhân vật | Đối thoại (nói với người khác) và độc thoại (nói với chính mình, kể cả nghĩ thầm) |
| Dấu hiệu nhận biết | Gạch đầu dòng, dấu hai chấm, ngoặc kép, động từ nói và cách xưng hô |
| Học ở | Tri thức ngữ văn Bài 1 lớp 6, ôn lại ở lớp 10 và 11 khi học truyện |

Lời người kể chuyện là giọng nào trong truyện?
Thử hình dung một truyện như một vở diễn có người dẫn chương trình. Người dẫn đứng ngoài sân khấu, giới thiệu bối cảnh, cho biết ai bước ra, chuyện gì vừa xảy ra; còn diễn viên thì nói bằng chính giọng của vai mình. Giọng người dẫn ấy là lời người kể chuyện. Giọng các vai là lời nhân vật.
Phần Tri thức ngữ văn ở Bài 1 sách Ngữ văn 6 bộ Kết nối tri thức tách bạch hai khái niệm này: phần kể do người kể chuyện đảm nhận, còn những câu nhân vật tự nói ra, với người khác hay với chính mình, là lời nhân vật. Lên lớp 10, các tài liệu ôn tập mở rộng thêm: lời kể còn làm nhiệm vụ dựng không gian, thời gian, khắc họa nhân vật và bày tỏ thái độ của người kể với những gì đang diễn ra.
Nói cách khác, mọi thứ trên trang sách mà không phải “nhân vật đang lên tiếng” thì đều thuộc về người kể. Câu “Trời bắt đầu đổ mưa” là lời kể. Câu “Mưa rồi, về thôi!” mà một nhân vật thốt lên lại là lời nhân vật. Hai câu cùng nói về cơn mưa nhưng thuộc hai giọng khác nhau.
Kể, tả, bình; đối thoại và độc thoại
Mỗi lớp lời lại có mấy kiểu nhỏ. Biết tên các kiểu này giúp câu trả lời trong bài kiểm tra cụ thể hơn hẳn so với việc chỉ ghi “đây là lời người kể”.
- Lời kể sự việc: thuật lại hành động, biến cố theo trình tự (Sáng hôm sau, nó dậy sớm, ra đầu làng chờ xe).
- Lời tả: dựng cảnh vật, chân dung, không khí (Con đường đất đỏ lầy lội sau trận mưa đêm).
- Lời bình luận: người kể dừng lại nhận xét, suy ngẫm về nhân vật hoặc về đời sống. Kiểu lời này rõ nhất ở những truyện có người kể xưng “tôi” giàu suy tư.
Lời nhân vật thì chia theo người nghe:
- Đối thoại: hai hay nhiều nhân vật trò chuyện qua lại. Xem thêm cách các lượt lời nối nhau ở bài lượt lời trong một cuộc hội thoại.
- Độc thoại: nhân vật nói một mình, có thể nói thành tiếng hoặc chỉ diễn ra trong đầu (độc thoại nội tâm). Phần này được giải thích kĩ hơn trong bài độc thoại và độc thoại nội tâm.
Có một vùng giáp ranh đáng chú ý. Ở nhiều truyện hiện đại, lời kể bỗng mang giọng điệu, cách nghĩ của nhân vật mà không có dấu hai chấm hay ngoặc kép, ví dụ: Nó đứng lặng. Mẹ lại quên rồi. Lần thứ ba trong tuần. Sách lí luận văn học gọi kiểu này là lời nửa trực tiếp: về hình thức vẫn là lời người kể, nhưng ý nghĩ thì của nhân vật. Học sinh lớp 6, 7 chỉ cần nhận ra hai lớp chính; đến lớp 11 mới cần gọi tên vùng giáp ranh này.
Bốn cách tách hai lớp lời trên trang sách
- Nhìn dấu câu trước tiên. Lời nhân vật thường đứng sau dấu gạch ngang ở đầu dòng, hoặc sau dấu hai chấm và nằm trong ngoặc kép. Đây là tín hiệu nhanh nhất, nhưng không phải lúc nào tác giả cũng dùng.
- Tìm động từ nói và nghĩ. Những từ như bảo, hỏi, đáp, kêu lên, thì thầm, nghĩ bụng, tự nhủ thường đứng ngay trước lời nhân vật. Bản thân câu chứa động từ ấy (Bà quay sang hỏi:) lại là lời người kể.
- Xét cách xưng hô. Người kể ngôi thứ ba gọi nhân vật bằng tên hoặc bằng “lão”, “chị”, “nó”. Khi câu văn bỗng xuất hiện “tao”, “mày”, “cháu”, “ông ơi”, hay đổi sang giọng thân mật, đó gần như chắc chắn là nhân vật đang nói.
- Nghe giọng điệu. Lời nhân vật mang dấu vết khẩu ngữ: câu cảm thán, câu cụt, tiếng gọi, từ địa phương. Lời kể thường điềm tĩnh và đầy đủ thành phần câu hơn.
Truyện kể ở ngôi thứ nhất cần cẩn thận gấp đôi. “Tôi” vừa là người kể vừa là một nhân vật. Những câu “tôi” thuật lại cho người đọc nghe là lời người kể; còn khi “tôi” quay sang nói chuyện với một nhân vật khác ngay trong cảnh truyện, câu nói ấy là lời nhân vật. Bài ngôi kể thứ nhất và người kể xưng tôi có thêm ví dụ cho trường hợp này.
Đặt hai lớp lời cạnh nhau
| Tiêu chí | Lời người kể chuyện | Lời nhân vật |
|---|---|---|
| Ai lên tiếng | Người kể (giấu mình hoặc xưng “tôi”) | Nhân vật trong truyện |
| Nói với ai | Với người đọc | Với nhân vật khác hoặc với chính mình |
| Việc chính | Dẫn dắt mạch truyện, dựng bối cảnh, nhận xét | Bộc lộ tính cách, cảm xúc, quan hệ giữa các nhân vật |
| Hình thức | Câu văn trần thuật liền mạch | Sau gạch đầu dòng, dấu hai chấm, trong ngoặc kép |
| Giọng | Thường khách quan, ổn định | Mang dấu ấn riêng: tuổi tác, vùng miền, tâm trạng |
Bảng trên chỉ là xu hướng chung. Có người kể rất chủ quan, nói năng như một nhân vật; cũng có nhân vật kể lại cả một câu chuyện dài trong lời thoại của mình. Khi đó lời nhân vật lại chứa một câu chuyện nhỏ bên trong.
Soi hai lớp lời qua Dế Mèn và lão Hạc
Bài học đường đời đầu tiên: người kể cũng là nhân vật
Truyện của Tô Hoài mở bằng một đoạn Dế Mèn tự tả mình: đôi càng mẫm bóng, cái đầu nổi từng tảng, hai sợi râu dài. Đó là lời người kể, vì Mèn đang kể với người đọc về bản thân thời trai trẻ. Đến cảnh Mèn trêu chị Cốc, những câu hát véo von và lời qua tiếng lại giữa các con vật là lời nhân vật, nằm sau gạch đầu dòng. Đoạn cuối, khi Mèn đứng trước nấm mồ Dế Choắt và nghĩ về bài học đầu tiên, lời kể chuyển sang giọng suy ngẫm, nghe như lời bình của chính người kể đã trưởng thành. Phần câu hỏi đọc hiểu truyện Dế Mèn lớp 6 có hỏi trực tiếp về chi tiết này.
Lão Hạc: lời bình của ông giáo
Truyện của Nam Cao do ông giáo kể. Cảnh lão Hạc sang báo tin đã bán cậu Vàng, rồi kể lể chuyện con chó “lừa” mình, gần như toàn là lời nhân vật: lão nói, ông giáo đáp, giọng lão nghẹn lại, câu cụt, câu than. Xen giữa những lượt thoại ấy là lời kể tả nét mặt co rúm, cái đầu ngoẹo về một bên, miệng móm mém mếu như con nít. Đặc biệt, có những đoạn ông giáo ngừng kể để suy nghĩ về con người, mở đầu bằng tiếng “Chao ôi!”, và đó là lời người kể ở dạng bình luận. Đọc thêm bài soạn truyện ngắn Lão Hạc để thấy cách Nam Cao đặt những đoạn bình ấy đúng lúc người đọc đang xúc động nhất.
Đặt hai truyện cạnh nhau sẽ thấy: lời nhân vật làm cảnh truyện sống, còn lời người kể quyết định người đọc nhìn cảnh ấy bằng con mắt nào.
Luyện tách lời trong đoạn văn
Câu 1: Trong đoạn sau, câu nào là lời nhân vật? “Chiều muộn, bà cụ vẫn ngồi ở bậc cửa. Thấy đứa cháu đạp xe về, bà đứng dậy: – Đói chưa con? Cơm bà để trong chạn.”
Đáp án: Lời nhân vật là “Đói chưa con? Cơm bà để trong chạn.” (đứng sau gạch đầu dòng, có cách xưng “con”, “bà”). Hai câu đầu và vế “bà đứng dậy” là lời người kể chuyện, thuật lại thời gian, hành động.
Câu 2: Câu “Nó tự nhủ: mai nhất định phải nói thật với cô” chứa những lớp lời nào?
Đáp án: Vế “Nó tự nhủ” là lời người kể. Phần sau dấu hai chấm là lời nhân vật ở dạng độc thoại nội tâm, vì nhân vật nói với chính mình, không thành tiếng.
Câu 3: Truyện kể ở ngôi thứ nhất có câu “Tôi bảo em: – Đừng khóc nữa, anh sửa được mà.” Lời nào là của người kể, lời nào là của nhân vật?
Đáp án: “Tôi bảo em:” là lời người kể (“tôi” đang kể lại với người đọc). “Đừng khóc nữa, anh sửa được mà.” là lời nhân vật, vì lúc này “tôi” đóng vai nhân vật người anh, nói trực tiếp với em trong cảnh truyện.
Câu 4: Nêu tác dụng của việc xen lời nhân vật vào lời kể trong một đoạn truyện.
Đáp án tham khảo: Lời nhân vật làm cảnh truyện sinh động, như đang diễn ra trước mắt; giúp người đọc hiểu tính cách, tâm trạng nhân vật qua chính cách nói của họ. Lời kể xen vào giữ mạch truyện, bổ sung chi tiết về hành động, nét mặt mà nhân vật không tự nói ra được. Hai lớp lời phối hợp làm câu chuyện vừa rõ ràng vừa có chiều sâu.
Lời kể, lời thoại trong bài kiểm tra Ngữ văn
Lời nhân vật là gì?
Đó là câu nói hoặc ý nghĩ của chính nhân vật được ghi lại trong truyện, gồm đối thoại với người khác và độc thoại với bản thân. Trên trang sách, nó thường nằm sau gạch đầu dòng hoặc trong ngoặc kép.
Lời người kể chuyện có tác dụng gì?
Lời người kể dẫn dắt mạch truyện, giới thiệu bối cảnh, nhân vật và sự việc, đồng thời cho thấy thái độ, cách đánh giá của người kể. Không có lớp lời này, các đoạn thoại sẽ rời rạc, người đọc không biết ai đang nói, ở đâu, lúc nào.
Lời của người kể chuyện và lời của nhân vật khác nhau ở đâu?
Khác nhau ở người lên tiếng và người nghe. Lời người kể hướng tới người đọc, lời nhân vật hướng tới nhân vật khác hoặc chính nhân vật. Hình thức trình bày cũng khác: lời kể liền mạch, lời nhân vật thường được đánh dấu bằng dấu câu riêng.
Lời dẫn trực tiếp trong truyện có phải lời nhân vật không?
Thường là có: khi người kể dẫn nguyên văn câu nhân vật nói trong ngoặc kép hay sau gạch đầu dòng, phần được dẫn chính là lời nhân vật. Nếu người kể thuật lại ý nhân vật bằng lời của mình (lời dẫn gián tiếp) thì câu đó vẫn thuộc lời kể. Cách chuyển qua lại giữa hai kiểu dẫn có trong bài dấu hiệu của lời dẫn trực tiếp.