Người kể chuyện là người mà nhà văn dựng lên để thuật lại câu chuyện cho người đọc. Người ấy có thể hiện ra trong truyện bằng chữ “tôi” (ngôi thứ nhất) hoặc giấu mình, gọi các nhân vật bằng tên (ngôi thứ ba). Tùy chỗ đứng, người kể có thể biết hết mọi chuyện, gọi là người kể chuyện toàn tri, hoặc chỉ biết một phần, gọi là hạn tri.
| Khái niệm | Nhân vật hoặc giọng kể do tác giả tạo ra để kể lại câu chuyện |
| Thuộc | Yếu tố hình thức của truyện, đi cùng ngôi kể và điểm nhìn |
| Hai cách xuất hiện | Xưng “tôi” trong truyện, hoặc đứng ngoài, không lộ diện |
| Theo tầm hiểu biết | Toàn tri (biết hết, kể cả nội tâm mọi nhân vật) và hạn tri (biết có giới hạn) |
| Học ở | Ngữ văn 6 Bài 1, mở rộng ở Ngữ văn 10 và 11 khi học truyện |

Người kể chuyện là ai trong truyện?
Một câu chuyện không tự kể ra được. Phải có ai đó cầm lời, quyết định kể từ đâu, kể đến đâu, dừng lại ở chi tiết nào. “Ai đó” chính là người kể chuyện. Điều học sinh hay quên: người kể chuyện là một sáng tạo của nhà văn, cũng giống như nhân vật. Tô Hoài viết truyện, nhưng người kể trong Bài học đường đời đầu tiên là chú Dế Mèn.
Sách Ngữ văn 6 bộ Kết nối tri thức giới thiệu khái niệm này ngay ở Bài 1 và nêu hai khả năng: người kể xuất hiện trực tiếp trong truyện ở ngôi thứ nhất, hoặc giấu mình ở ngôi thứ ba và có khả năng “biết hết” mọi chuyện. Tài liệu ôn tập lớp 10 nói rõ hơn: người kể ngôi thứ ba là người kể ẩn danh, không tham gia cốt truyện, ta chỉ nhận ra họ qua lời kể.
Vì vậy, khi đề hỏi “người kể chuyện trong đoạn trích là ai”, câu trả lời không bao giờ là tên tác giả. Đó là “tôi” (kèm vai trò của “tôi” trong truyện), hoặc là người kể giấu mình ở ngôi thứ ba.
Trong một trang truyện, phần chữ của người kể và phần nhân vật tự nói luôn đan vào nhau; cách tách lời người kể chuyện và lời nhân vật có ví dụ và bài tập riêng.
Toàn tri, hạn tri: chuyện người kể biết tới đâu
Ngôi kể cho biết người kể đứng ở đâu. Toàn tri và hạn tri cho biết người kể biết bao xa. Hai tiêu chí này đan chéo nhau:
| Toàn tri (biết hết) | Hạn tri (biết có giới hạn) | |
|---|---|---|
| Ngôi thứ ba | Đi vào được suy nghĩ của mọi nhân vật, biết quá khứ, tương lai, chuyện xảy ra ở nhiều nơi cùng lúc. Kiểu phổ biến của truyện cổ tích, truyền thuyết. | Vẫn gọi nhân vật bằng tên, nhưng chỉ bám theo tầm nhìn, cảm nhận của một nhân vật trung tâm; nhân vật ấy không biết thì người kể cũng không nói. |
| Ngôi thứ nhất | Hiếm, vì “tôi” khó biết được lòng người khác. | Kiểu thường gặp: “tôi” chỉ kể điều mình thấy, nghe, đoán, nên có thể hiểu sai. |
Hai chữ này gốc Hán Việt: toàn là trọn vẹn, hạn là giới hạn, tri là biết. Tài liệu nước ngoài gọi người kể toàn tri là omniscient narrator. Có một điều thú vị: người kể toàn tri biết hết nhưng không bắt buộc kể hết. Nhiều truyện hay nhờ đúng việc người kể “biết mà im”.
Chỗ đứng và tầm nhìn của người kể còn được xét kĩ hơn bằng khái niệm điểm nhìn; xem bài các kiểu điểm nhìn trần thuật nếu cần phân tích sâu ở lớp 11, 12.
Bốn người kể quen thuộc trong sách Ngữ văn
Sọ Dừa: người kể biết cả phép lạ
Truyện cổ tích kể từ lúc bà mẹ uống nước trong cái sọ dừa rồi có mang, kể chàng Sọ Dừa đi chăn bò, người ngoài chỉ thấy cái sọ lăn lông lốc, riêng cô út bắt gặp một chàng trai ngồi thổi sáo, kể cả âm mưu của hai cô chị lẫn số phận của cô út trên hoang đảo. Người kể có mặt ở mọi nơi, biết cả điều chưa ai thấy: đó là người kể ngôi thứ ba toàn tri điển hình.
Lão Hạc: ông giáo hiểu nhầm vì hạn tri
Ông giáo kể ở ngôi thứ nhất và chỉ biết những gì mình chứng kiến. Khi nghe Binh Tư nói lão Hạc xin bả chó, ông giáo thất vọng, tưởng lão đã tha hóa. Đến khi chứng kiến cái chết dữ dội của lão, ông mới hiểu ra. Chính giới hạn hiểu biết của người kể tạo nên cú đảo chiều ở cuối truyện. Có thể ôn lại diễn biến này trong bài soạn Lão Hạc theo sách Kết nối tri thức.
Chiếc lá cuối cùng: toàn tri mà giữ bí mật
Truyện của O. Hen-ri kể ở ngôi thứ ba. Người kể theo sát Xiu và Giôn-xi, nhưng giấu kín việc cụ Bơ-men đã vẽ chiếc lá trên tường trong đêm mưa gió. Bí mật chỉ được hé ra qua lời Xiu ở đoạn kết, khi cụ đã mất vì sưng phổi. Người kể không hề “không biết”; người kể chọn không nói, để chiếc lá trở thành kiệt tác cả với nhân vật lẫn người đọc. Phân tích kĩ hơn ở phần soạn Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri.
Bài học đường đời đầu tiên: người kể nhìn lại chính mình
Dế Mèn kể chuyện của mình từ vị trí một người đã lớn, đã trải qua chuyện cũ. Vì thế lời kể vừa tả sự hống hách thời trẻ, vừa thấm giọng ân hận. Người kể ngôi thứ nhất ở đây là nhân vật chính, và khoảng cách thời gian giữa “tôi kể” với “tôi trong truyện” làm nên bài học.
Ba bước xác định người kể chuyện
- Tìm đại từ xưng hô của giọng kể. Có “tôi”, “chúng tôi”, “mình” kể lại sự việc thì là ngôi thứ nhất. Người kể gọi mọi nhân vật bằng tên, bằng “anh ấy”, “lão”, “nó” thì là ngôi thứ ba.
- Xem người kể có tham gia câu chuyện không. Nếu là “tôi”, hỏi tiếp: “tôi” là nhân vật chính hay người đứng cạnh chứng kiến? Ông giáo trong Lão Hạc là người chứng kiến; Dế Mèn là nhân vật chính.
- Thử xem người kể biết được những gì. Người kể có nói ra suy nghĩ của nhiều nhân vật không? Có kể chuyện xảy ra ở nơi mình không có mặt không? Có thì nghiêng về toàn tri; chỉ biết qua mắt một người thì là hạn tri.
Bước 1 chỉ cho biết ngôi kể. Muốn trả lời trọn câu hỏi “người kể chuyện là ai, kể theo cách nào”, cần đi đủ ba bước. Ôn kĩ từng ngôi trong hai bài dấu hiệu ngôi kể thứ nhất và ngôi thứ ba toàn tri và hạn tri trong SGK.
Người kể chuyện không phải tác giả
| Tác giả | Người kể chuyện | Nhân vật | |
|---|---|---|---|
| Thuộc về | Đời thực | Thế giới của tác phẩm | Thế giới của tác phẩm |
| Việc làm | Viết ra toàn bộ tác phẩm | Cầm lời kể, dẫn dắt câu chuyện | Hành động, nói năng trong câu chuyện |
| Ví dụ ở Lão Hạc | Nam Cao | Ông giáo | Lão Hạc, Binh Tư, vợ ông giáo, cả ông giáo |
Một người kể có thể mang nhiều nét đời tư của tác giả, như nghề dạy học, như vốn sống làng quê. Nhưng viết “Nam Cao kể rằng lão Hạc xin bả chó” vẫn là sai về thuật ngữ; nên viết “người kể chuyện (ông giáo) kể rằng…”.
Thực hành nhận diện người kể chuyện
Câu 1: Đoạn “Hai anh em cùng ngồi bên bếp lửa. Anh nghĩ đến món nợ chưa trả. Em thì mơ về chiếc xe đạp mới, chẳng hay anh đang lo nghĩ chuyện gì” có người kể toàn tri hay hạn tri?
Đáp án: Người kể ngôi thứ ba toàn tri. Người kể đi vào được suy nghĩ của cả hai nhân vật (anh lo nợ, em mơ xe đạp), lại biết điều mà nhân vật em không biết.
Câu 2: Trong truyện Lão Hạc, vì sao có lúc ông giáo hiểu sai về lão Hạc?
Đáp án: Vì ông giáo là người kể ngôi thứ nhất hạn tri: chỉ biết những gì mình thấy, nghe. Nghe tin lão xin bả chó, ông không biết lão định dùng bả để tự tử, nên nghĩ lão đã thay đổi. Giới hạn ấy tạo nên tình huống bất ngờ và làm cái chết của lão Hạc thêm ám ảnh.
Câu 3: Viết lại câu “Cô bé nhìn chiếc bánh, nuốt nước bọt” theo người kể ngôi thứ nhất hạn tri, với người kể là bạn của cô bé.
Đáp án tham khảo: “Tôi thấy nó cứ nhìn chiếc bánh mãi, cổ họng khẽ động. Chắc nó đói lắm, nhưng tôi không dám hỏi.” Người kể chỉ tả điều nhìn thấy và phỏng đoán (“chắc”), không khẳng định được cô bé nghĩ gì.
Câu 4: Vì sao nói người kể trong Chiếc lá cuối cùng “biết mà không kể”?
Đáp án: Người kể ngôi thứ ba có thể biết việc cụ Bơ-men vẽ lá nhưng cố ý giấu đến cuối truyện, để người đọc cùng tin vào chiếc lá như Giôn-xi. Cách kể ấy tạo kết thúc bất ngờ và làm nổi bật sự hi sinh thầm lặng của người họa sĩ già.
Toàn tri, hạn tri và ngôi kể trong đề đọc hiểu
Người kể chuyện toàn tri là gì?
Là người kể biết hết mọi chuyện trong truyện: hành động, quá khứ, cả suy nghĩ thầm kín của các nhân vật. Kiểu người kể này thường ở ngôi thứ ba và gặp nhiều trong truyện cổ tích, truyền thuyết.
Người kể chuyện hạn tri là gì?
Là người kể chỉ biết một phần câu chuyện, thường trong tầm nhìn của chính mình hoặc của một nhân vật. Người kể xưng “tôi” phần lớn là hạn tri; ngôi thứ ba cũng có thể hạn tri khi bám sát một nhân vật.
Người kể chuyện ngôi thứ ba có luôn là toàn tri không?
Không. Nhiều truyện ngắn hiện đại kể ở ngôi thứ ba nhưng chỉ nhìn qua mắt một nhân vật trung tâm, người đọc chỉ biết điều nhân vật ấy biết. Khi đó người kể ngôi thứ ba là hạn tri.
Một truyện có thể có nhiều người kể chuyện không?
Có. Có truyện đổi người kể giữa các phần, có truyện lồng một câu chuyện nhỏ do nhân vật kể lại trong câu chuyện lớn. Khi phân tích, nên chỉ rõ từng đoạn do ai kể và việc thay đổi ấy giúp gì cho ý đồ của tác phẩm.