Ngôi kể thứ nhất là cách kể chuyện trong đó người kể xưng “tôi” (hoặc “chúng tôi”, “em”, “mình”) và có mặt ngay trong câu chuyện, kể lại điều chính mình đã làm, đã thấy, đã nghĩ. Muốn hiểu ngôi kể thứ nhất, trước hết cần biết ngôi kể là gì: đó là vị trí người kể đứng để kể, xưng hô với nhân vật và với người đọc ra sao.
| Khái niệm | Người kể xưng “tôi”, là một nhân vật trong truyện, kể từ trải nghiệm của mình |
| Thuộc | Kiến thức về người kể chuyện, học từ Ngữ văn 6; dùng khi đọc truyện và viết văn tự sự |
| Dấu hiệu nhận biết | Đại từ “tôi/chúng tôi” làm chủ thể kể; người kể chỉ biết điều mình chứng kiến hoặc được nghe |
| Đối lập với | Ngôi kể thứ ba: người kể giấu mình, gọi nhân vật bằng tên |

Ngôi kể thứ nhất: người kể xưng tôi
Mỗi câu chuyện đều phải có người kể. Ngôi kể cho biết người ấy đứng ở đâu so với câu chuyện: ở bên trong, xưng “tôi” và trực tiếp tham gia; hay ở bên ngoài, không lộ mặt, gọi các nhân vật bằng tên hoặc bằng “anh ta”, “cô ấy”. Tên gọi “ngôi thứ nhất”, “ngôi thứ ba” lấy từ ngôi của đại từ xưng hô (xem thêm bảng ngôi xưng hô trong tiếng Việt).
Với ngôi kể thứ nhất, người kể là một nhân vật. Sách Ngữ văn mới gọi người này là người kể chuyện ngôi thứ nhất. Vì đứng trong truyện, người đó kể được rất kĩ cảm xúc, suy nghĩ của bản thân, nhưng lại không tự biết hết những gì xảy ra trong lòng người khác.
Điểm hay bị nhầm: “tôi” trong truyện không mặc nhiên là tác giả. Dế Mèn xưng tôi nhưng người viết là nhà văn Tô Hoài. Ngay cả với hồi kí, “tôi” của những năm thơ ấu cũng đã cách xa con người tác giả lúc cầm bút. Ngôi kể là một lựa chọn nghệ thuật, không phải lời khai lí lịch.
Dấu hiệu nhận ra truyện kể theo ngôi thứ nhất
- Đại từ chủ thể kể là ngôi một: “tôi”, “chúng tôi”, “tớ”, “mình”, “em”, “con” (khi kể với bố mẹ). Đại từ ấy xuất hiện ở lời kể, không chỉ trong lời thoại.
- Người kể có tham gia sự việc: hoặc là người trong cuộc, hoặc là người đứng gần chứng kiến.
- Tầm hiểu biết có giới hạn: người kể đoán ý người khác qua nét mặt, lời nói (“hình như”, “có lẽ”), không nói chắc nhân vật khác đang nghĩ gì.
- Nhiều câu tự bộc lộ: “tôi thấy”, “tôi nghĩ”, “tôi ân hận”, lời bình của người kể xen vào lời kể.
Cẩn thận với lời thoại: một truyện kể theo ngôi thứ ba vẫn có nhân vật nói “Tôi đi đây”. Chỉ khi chính lời kể xưng tôi thì mới là ngôi thứ nhất.
“Tôi” là nhân vật chính hay người đứng bên cạnh
Người kể ngôi thứ nhất có hai vai thường gặp.
“Tôi” là nhân vật chính. Người kể kể chuyện của chính mình, người đọc theo sát từng biến đổi trong suy nghĩ. Truyện thiếu nhi, nhật kí, hồi kí hay chọn vai này.
“Tôi” là người chứng kiến. Nhân vật trung tâm là một người khác; “tôi” chỉ đứng gần, quan sát và kể lại. Vì không biết hết, người kể tạo ra khoảng bí ẩn quanh nhân vật chính, rồi để sự thật lộ dần ra. Bác sĩ Watson kể về Sherlock Holmes là ví dụ nổi tiếng của văn học thế giới.
Ngoài ra có lúc người kể xưng “chúng tôi”, nói thay cho cả một nhóm, ví dụ một lớp học hay một đơn vị bộ đội nhớ lại chuyện chung.
Bốn truyện trong sách Ngữ văn kể bằng ngôi thứ nhất
Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài)
Dế Mèn tự kể về mình: tả cái thân hình cường tráng, thói kiêu căng, rồi trò trêu chị Cốc dẫn đến cái chết của Dế Choắt. Vì chính Dế Mèn kể, người đọc nghe được cả giọng tự đắc lúc đầu lẫn nỗi ân hận về sau. Bài học thấm hơn khi nó được nói ra bằng lời của kẻ đã gây lỗi. Câu hỏi đọc hiểu của văn bản có ở bài soạn Bài học đường đời đầu tiên cho sách lớp 6.
Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh)
Người anh xưng tôi kể về cô em gái có tài vẽ. Kể theo ngôi này, truyện phơi bày được những cảm xúc khó nói: ghen tị, tự ái, rồi xấu hổ khi đứng trước bức tranh em vẽ mình. Nếu đổi sang ngôi thứ ba, phần giằng xé trong lòng người anh sẽ mờ đi nhiều.
Lão Hạc (Nam Cao)
Người kể là ông giáo, hàng xóm của lão Hạc, thuộc vai “tôi chứng kiến”. Ông giáo không biết lão Hạc định làm gì với gói bả chó xin của Binh Tư, nên nghi ngờ, thất vọng, đến cuối mới vỡ lẽ. Chính sự hiểu lầm ấy làm cái chết của lão Hạc thêm bất ngờ và những suy ngẫm của ông giáo về con người thêm sức nặng. Xem phần đọc hiểu ở bài soạn Lão Hạc sách Cánh diều.
Tôi đi học (Thanh Tịnh)
Nhân vật tôi nhớ lại buổi tựu trường đầu tiên. Ngôi kể thứ nhất kết hợp với giọng hồi tưởng khiến truyện gần như một bài thơ văn xuôi: ít sự kiện, nhiều cảm giác, cái gì cũng được nhìn qua đôi mắt cậu bé ngày ấy.
Ngôi thứ nhất đặt cạnh ngôi thứ hai và ngôi thứ ba
Bảng dưới đặt ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba cạnh nhau, kèm thêm ngôi thứ hai vốn ít gặp.
| Tiêu chí | Ngôi thứ nhất | Ngôi thứ ba | Ngôi thứ hai (hiếm) |
|---|---|---|---|
| Cách xưng | Tôi, chúng tôi | Gọi tên nhân vật, “anh ấy”, “nó” | Gọi người đọc là “bạn”, “anh” |
| Vị trí người kể | Trong truyện | Ngoài truyện, giấu mình | Kéo người đọc vào làm nhân vật |
| Hiểu biết | Chỉ những gì “tôi” thấy, nghe, nghĩ | Có thể biết hết mọi nhân vật | Tùy người viết |
| Ưu thế | Chân thật, gần gũi, bộc lộ nội tâm sâu | Bao quát, khách quan, linh hoạt | Lạ, gây chú ý |
| Ví dụ | Bài học đường đời đầu tiên, Lão Hạc | Thánh Gióng, Cô bé bán diêm | Một số truyện ngắn hiện đại |
Ngôi thứ nhất cũng có giới hạn: người kể không thể ở mọi nơi, không đọc được ý nghĩ của người khác. Nhà văn giỏi biến chính giới hạn đó thành lợi thế, như cách Nam Cao giữ bí mật về gói bả chó. Khái niệm điểm nhìn gần với chuyện này được nói tới trong bài POV và điểm nhìn của người kể trong văn học; còn cách chọn ngôi khi viết văn tự sự thì có ở bài giải thích văn tự sự và các yếu tố của nó.
Bài tập nhận diện ngôi kể thứ nhất
Câu 1: Đoạn sau kể theo ngôi nào? “Chiều hôm ấy tôi về muộn. Mẹ không mắng, chỉ lặng lẽ dọn mâm cơm đã nguội. Tôi biết mình đã làm mẹ lo.”
Đáp án: Ngôi thứ nhất. Lời kể xưng “tôi”, người kể là nhân vật trong truyện và tự nói ra cảm xúc của mình (“tôi biết mình đã làm mẹ lo”).
Câu 2: Chuyển đoạn trên sang ngôi thứ ba và cho biết đoạn văn mất đi điều gì.
Đáp án: Ví dụ: “Chiều hôm ấy Nam về muộn. Mẹ không mắng, chỉ lặng lẽ dọn mâm cơm đã nguội. Nam biết mình đã làm mẹ lo.” Đoạn văn khách quan hơn nhưng bớt đi sự thủ thỉ, tâm sự; người đọc đứng ngoài nhìn Nam chứ không còn “ở trong” Nam.
Câu 3: Trong đoạn “Lan hỏi tôi có đi cắm trại không. Tôi lắc đầu. Lan có vẻ buồn, chắc bạn ấy mong tôi đi lắm”, chi tiết nào cho thấy giới hạn hiểu biết của người kể ngôi thứ nhất?
Đáp án: Cụm “có vẻ buồn, chắc bạn ấy mong tôi đi lắm”. Người kể không biết chắc Lan nghĩ gì, chỉ đoán qua nét mặt, đúng đặc điểm của ngôi thứ nhất.
Câu 4: Truyện Thánh Gióng có thể kể lại theo ngôi thứ nhất không? Nếu có, nên chọn ai làm người kể?
Đáp án: Có thể, khi làm bài kể sáng tạo. Có thể nhập vai Gióng (kể chuyện của chính mình) hoặc vai bà mẹ, một người dân làng (người chứng kiến). Mỗi lựa chọn cho một góc nhìn khác: vai Gióng nhấn vào ý chí đánh giặc, vai bà mẹ nhấn vào tình thương và sự ngỡ ngàng.
Ngôi kể thứ nhất: câu hỏi học sinh hay gặp
Ngôi kể là gì?
Ngôi kể là vị trí mà người kể chuyện chọn để kể: xưng “tôi” từ bên trong câu chuyện (ngôi thứ nhất) hay đứng ngoài, gọi nhân vật bằng tên (ngôi thứ ba). Ngôi kể quyết định người đọc biết được gì và cảm nhận câu chuyện gần hay xa.
Tác dụng của ngôi kể thứ nhất là gì?
Làm câu chuyện chân thật, gần gũi; giúp người kể bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc; tạo cảm giác như đang nghe một người tâm sự. Khi “tôi” là người chứng kiến, ngôi này còn giữ được sự bí ẩn về nhân vật chính.
Viết bài văn kể lại trải nghiệm nên dùng ngôi thứ mấy?
Nên dùng ngôi thứ nhất, vì đó là chuyện của chính mình. Xưng “tôi” hoặc “em” và giữ một cách xưng từ đầu đến cuối bài, như trong tập bài mẫu kể một trải nghiệm đáng nhớ lớp 6.
Người kể ngôi thứ nhất có phải là tác giả không?
Không nhất thiết. “Tôi” là nhân vật do tác giả tạo ra; có thể là một con dế, một người hàng xóm hay một cậu bé. Chỉ với hồi kí, tự truyện thì “tôi” mới gần với tác giả, nhưng vẫn không đồng nhất hoàn toàn.