Hồi ký là thể văn thuộc loại kí, trong đó người viết nhớ lại và kể những sự việc có thật mà chính mình đã trải qua hoặc tận mắt chứng kiến, thường bằng ngôi thứ nhất. Sách Ngữ văn hiện hành viết là hồi kí; hai cách viết cùng chỉ một thể loại. Thể hồi ký coi trọng sự thật, nhưng là sự thật đã đi qua trí nhớ và cảm xúc của một người.
| Khái niệm | Thể kí kể lại chuyện đã qua mà tác giả là người trong cuộc hoặc người chứng kiến |
| Nghĩa từng chữ | Hồi (回): quay về, trở lại; kí (記): nhớ, ghi chép |
| Thuộc | Loại hình kí, văn xuôi phi hư cấu |
| Dấu hiệu nhận biết | Người kể xưng “tôi” là chính tác giả; người, việc, nơi chốn có thật; nhìn lại từ một khoảng cách thời gian |
| Gặp trong SGK | Trong lòng mẹ (Nguyên Hồng), Bước vào đời (Đào Duy Anh) |

Hồi ký: nhớ lại rồi mới ghi
Tên gọi đã nói gần hết. Chữ hồi (回) là quay về, như trong hồi hương, hồi tưởng; chữ kí (記) vừa là nhớ vừa là ghi chép, như trong nhật kí, du kí. Hồi ký vì thế là trang viết của một người quay đầu nhìn lại quãng đường đã đi, rồi chép lại những gì còn đọng trong trí nhớ.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học gọi đây là thể văn ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc. Từ điển mở Wiktionary nhấn thêm một ý: các sự việc ấy thường được thuật lại theo thứ tự thời gian. Phần Tri thức ngữ văn của sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (tập hai, Bài 7) mô tả hồi kí là thể giàu giá trị tư liệu, kể từ điểm nhìn chủ quan về những biến cố trong quá khứ mà tác giả là nhân vật trung tâm hoặc người dự phần.
Ghép các cách giảng lại, có ba điều làm nên một trang hồi ký: chuyện đã xảy ra thật, người kể có mặt trong chuyện ấy, và người kể đang đứng ở hiện tại để nhìn về sau. Điều thứ ba hay bị quên, mà lại là cái tạo ra giọng văn riêng của thể loại. Hồi ký nằm trong một nhóm lớn hơn gồm kí sự, bút kí, tùy bút, nhật kí; muốn xem cả bức tranh, đọc bài về thể kí và các tiểu loại của nó.
Ba trang hồi kí quen thuộc với học sinh
Trong lòng mẹ: hồi kí tuổi thơ
Đoạn Trong lòng mẹ trích từ Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, tập hồi kí kể lại tuổi nhỏ cay đắng của chính nhà văn. Chú bé Hồng bị bà cô dùng lời lẽ cay độc để gieo vào đầu những ý nghĩ xấu về mẹ; rồi đến khi gặp lại mẹ, em chạy theo chiếc xe, được ngồi trong lòng mẹ và thấy mọi tủi nhục tan đi.
Đọc đoạn này sẽ thấy hồi kí giàu cảm xúc đến mức nào. Không có cốt truyện được dựng lên, chỉ có một đứa trẻ thật, một bà cô thật, một buổi gặp lại có thật. Sức nặng nằm ở chỗ người kể từng sống trong nỗi đau đó. Sách Ngữ văn 6 Cánh diều đưa đoạn trích vào chương trình; phần trả lời câu hỏi có ở bài gợi ý đọc hiểu đoạn trích của Nguyên Hồng.
Bước vào đời: hồi kí của một học giả
Ở lớp 12, học sinh đọc Bước vào đời, trích phần đầu hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm của Đào Duy Anh. Ông kể lại buổi đón cụ Phan Bội Châu ở Đồng Hới cuối năm 1925, sự kiện khiến chàng giáo viên trẻ quyết rời tỉnh lẻ để đi tìm con đường lớn hơn. Ngay nhan đề tập hồi kí đã cho thấy tư thế người viết: một người ở buổi chiều của đời mình nghĩ về buổi sáng.
Văn bản này cũng cho thấy một nét đáng quý của hồi kí: có chỗ tác giả thừa nhận mình không còn nhớ rõ người kia đã nói gì. Một người viết hồi kí trung thực không lấp chỗ quên bằng tưởng tượng. Bài soạn văn bản Bước vào đời của Đào Duy Anh phân tích kĩ tính phi hư cấu ấy.
Cát bụi chân ai: hồi kí về bạn văn
Không phải hồi kí nào cũng xoay quanh tuổi thơ. Cát bụi chân ai của Tô Hoài viết nhiều về những nhà văn cùng thời mà ông quen biết. Khi sách ra mắt vào đầu những năm 1990, nhiều người tranh luận về các chân dung trong đó. Chuyện ấy cho thấy hồi kí luôn có hai mặt: nó là tư liệu quý, nhưng vẫn là cái nhìn của một người, nên người đọc cần so với các nguồn khác.
Đọc thế nào để biết đó là hồi ký?
- “Tôi” chính là tác giả. Trong truyện ngắn, nhân vật xưng “tôi” có thể là người bịa ra. Trong hồi ký, “tôi” là người có tên trên bìa sách.
- Có mốc kiểm chứng được. Năm tháng, địa danh, tên người thật, sự kiện lịch sử. Đoạn Bước vào đời có Đồng Hới, năm 1925, cụ Phan Bội Châu.
- Có hai lớp thời gian. Thời của câu chuyện và thời của người đang kể. Những câu như “đến bây giờ tôi vẫn nhớ”, “hồi ấy tôi chưa hiểu” là dấu vết của khoảng cách đó.
- Kể việc đi cùng bày tỏ. Người viết vừa thuật lại, vừa đánh giá, cảm thán, có khi tự trách mình ngày trước.
- Cốt truyện lỏng. Mạch văn đi theo trí nhớ: có chỗ dừng lâu ở một kỉ niệm, có chỗ lướt qua vài năm.
Cần tỉnh táo với dấu hiệu thứ nhất. Truyện ngắn kể ở ngôi thứ nhất rất nhiều, nên xưng “tôi” chưa đủ để kết luận. Phải xem người, việc trong văn bản có thật hay không; đó là ranh giới giữa văn hư cấu và văn xuôi viết từ chuyện có thật.
Hồi ký, tự truyện, nhật ký, tiểu sử đặt cạnh nhau
| Thể | Ai viết | Viết lúc nào | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Hồi ký | Người trong cuộc hoặc chứng nhân | Sau sự việc, thường nhiều năm | Một quãng đời, một biến cố, có thể kể nhiều về người khác |
| Tự truyện | Chính người được kể | Khi nhìn lại đời mình | Hành trình cả cuộc đời người viết |
| Nhật ký | Chính người trải qua | Ngay trong ngày, ghi theo từng ngày | Việc và tâm trạng thường nhật, riêng tư |
| Tiểu sử | Thường là người khác | Bất cứ lúc nào | Tóm tắt thân thế, sự nghiệp, giọng khách quan |
Ranh giới giữa hồi ký và tự truyện mỏng nhất. Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt nêu một cách phân: hồi ký tập trung vào một số sự kiện, còn tự truyện bao quát cả một đời người. Nhiều cuốn sách đứng ở giữa nên hay được gọi chung là “hồi kí tự truyện”, như trường hợp Những ngày thơ ấu. Còn tiểu sử thì khác hẳn về giọng: ngôi thứ ba, ít cảm xúc. Bảng so sánh chi tiết hơn có ở bài phân biệt tiểu sử với lí lịch và tự truyện.
Một chỗ dễ nhầm khác là nhật ký. Nhật ký chép ngay khi việc vừa xảy ra, nên chưa có độ lùi; hồi ký thì luôn đến muộn, và chính độ muộn ấy cho người viết cơ hội hiểu lại chuyện cũ.
Bốn bài tập nhận diện thể hồi kí
Câu 1: Vì sao đoạn trích Trong lòng mẹ được xếp vào thể hồi kí?
Đáp án: Người kể xưng “tôi” và chính là tác giả Nguyên Hồng thuở nhỏ; các sự việc (cuộc trò chuyện với bà cô, lần gặp lại mẹ) là chuyện có thật mà tác giả đã trải qua; tác giả kể lại sau nhiều năm, xen nhiều cảm xúc của người đã lớn nhìn về tuổi thơ.
Câu 2: Đoạn văn sau gần với hồi kí hay nhật kí? “Hôm nay mưa suốt từ trưa, mình ngồi trong lớp mà chẳng nghe được chữ nào.”
Đáp án: Nhật kí. Từ “hôm nay” cho thấy việc được ghi ngay trong ngày, không có khoảng cách thời gian giữa lúc xảy ra và lúc viết. Nếu viết thành hồi kí, câu sẽ có dạng nhìn lại, chẳng hạn “Tôi còn nhớ buổi trưa mưa năm lớp sáu…”.
Câu 3: Một truyện ngắn kể ở ngôi thứ nhất, có địa danh thật, có phải là hồi kí không?
Đáp án: Chưa chắc. Truyện ngắn được phép hư cấu nhân vật và sự việc, kể cả khi đặt chúng vào một địa danh có thật. Chỉ khi người kể là tác giả và các sự việc chính đã thực sự xảy ra thì văn bản mới thuộc hồi kí.
Câu 4: Nêu một ưu điểm và một giới hạn của hồi kí khi dùng làm tư liệu lịch sử.
Đáp án tham khảo: Ưu điểm: người viết là nhân chứng nên kể được những chi tiết sống động, những cảm xúc mà sách sử không ghi. Giới hạn: trí nhớ có thể quên hoặc lệch, và người viết chỉ thấy được phần sự việc trong tầm mắt mình, nên cần đối chiếu với nguồn khác trước khi dùng làm bằng chứng.
Hồi ký trên giá sách và trong đề kiểm tra
Hồi kí là gì, viết “kí” hay “ký” mới đúng?
Cả hai đều được chấp nhận. Sách giáo khoa hiện hành dùng hồi kí, còn sách báo và bìa sách thường in hồi ký. Trong bài làm môn Ngữ văn, nên viết theo cách của sách giáo khoa cho thống nhất.
Đặc điểm của hồi kí gồm những gì?
Tính xác thực của người và việc; người kể là tác giả, xưng “tôi”; điểm nhìn từ hiện tại hướng về quá khứ; kết hợp kể, tả và bộc lộ cảm xúc; mang dấu ấn chủ quan vì dựa vào trí nhớ.
Hồi ký và tự truyện khác nhau thế nào?
Hồi ký thường xoay quanh một quãng đời hoặc vài sự kiện, có thể kể nhiều về người khác mà tác giả từng gặp. Tự truyện hướng vào chính cuộc đời người viết, đi theo hành trình dài hơn. Trên thực tế nhiều cuốn sách mang cả hai tính chất.
Hồi ký tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng memoir cho hồi ký, gốc từ chữ Pháp nghĩa là trí nhớ. Dạng số nhiều memoirs hay dùng cho hồi ký của chính khách, tướng lĩnh; còn tự truyện là autobiography.