Hỷ sự (cũng viết hỉ sự) là việc vui mừng trong một gia đình, thường nhất là đám cưới. Theo từ điển Hán Việt, 喜事 chỉ những dịp đáng mừng như cưới hỏi, khánh lễ, sinh con. Nghe ai nói “nhà có hỷ sự”, gần như chắc chắn là nhà ấy sắp có người lấy vợ, lấy chồng; báo hỷ là báo tin cưới.
| Nghĩa | Việc vui mừng, thường là việc cưới xin |
| Gốc từ | Hán Việt 喜事: hỷ (vui mừng) + sự (việc) |
| Cách viết | Hỷ sự hoặc hỉ sự, cả hai đều được |
| Trái nghĩa | Hiếu sự, việc hiếu (việc tang ma) |
| Dấu hiệu dễ thấy | Thiệp báo hỷ, chữ song hỷ dán ở cổng, rạp cưới |

Hỷ sự là việc vui gì?
Tách chữ ra: hỷ (喜) là vui, mừng; sự (事) là việc. Ghép lại, hỷ sự là việc vui. Từ điển Hán Việt (bản trích dẫn và bản Nguyễn Quốc Hùng) giảng 喜事 là việc vui mừng, kể ra cưới hỏi, khánh lễ, sinh con trai. Từ điển Wiktionary tiếng Anh cũng ghi hai nghĩa cho 喜事: dịp vui, và đám cưới.
Từ điển tiếng Việt khi giảng chữ hỉ đứng riêng thì ghi: việc vui, mừng, thường là việc cưới xin, kèm ví dụ việc hiếu, việc hỉ, giấy báo hỉ. Vậy là trong lời ăn tiếng nói của người Việt, nghĩa “việc vui” đã thu hẹp lại khá nhiều. Thi đỗ, lên chức, mừng thọ cũng là chuyện vui, nhưng ít ai gọi đó là hỷ sự; nói “nhà có hỷ” thì người nghe nghĩ ngay đến đám cưới.
Tách riêng ra, chữ hỷ (喜) còn có mặt trong việc hỷ, chữ song hỷ và cụm hỷ nộ ái ố.
Vì sao cưới xin được gọi là việc hỷ?
Chữ 喜 trong chữ Hán thường được giảng là hình cái trống đặt trên chữ khẩu (miệng): có trống đánh, có tiếng cười nói, tức là có chuyện mừng. Trong đời một gia đình xưa, chuyện mừng lớn nhất là dựng vợ gả chồng cho con, vì đó là lúc hai họ nối thêm một nhánh và nhà có thêm người. Cho nên đám cưới chiếm lấy chữ hỷ, cũng như đám tang chiếm lấy chữ hiếu.
Người Việt giữ thói quen nói tránh, nói nhã về những việc lớn trong nhà. Thay vì nói thẳng “nhà tôi cưới con”, người ta nói “nhà có hỷ sự”, “xin báo hỷ”. Lối nói ấy vừa kín đáo, vừa mang sẵn lời chúc trong đó: việc này là việc vui.
Từ chữ hỷ đơn có chữ song hỷ (囍), tức hai chữ hỷ đứng cạnh nhau, dán ở cổng cưới và in trên thiệp. Ý nghĩa của chữ đôi này và lời chúc đi kèm được giải thích kỹ ở bài lời chúc hai niềm vui cùng đến cửa.
Nhà có hỷ sự thường làm những việc gì?
Mỗi vùng, mỗi nhà một khác, nhưng có mấy việc gần như ai cũng nhận ra:
- Báo hỷ: gửi thiệp cưới (còn gọi là giấy báo hỷ) cho họ hàng, bạn bè, hàng xóm. Từ điển giảng báo hỉ là gia đình sắp có đám cưới báo tin mừng về việc hôn nhân.
- Trang trí: dựng rạp hoặc cổng hoa, dán chữ song hỷ đỏ ở cổng, cửa, bàn thờ; nhiều nhà treo đèn lồng đỏ.
- Các lễ trong chuỗi cưới: dạm ngõ, ăn hỏi với lễ vật nhà trai mang sang, rồi ngày cưới với lễ vu quy bên nhà gái, lễ thành hôn bên nhà trai. Ở miền Tây còn có buổi tụ họp họ hàng trước ngày cưới.
- Đi hỷ: khách đến dự mang phong bì mừng, nói lời chúc trăm năm, vợ chồng hòa thuận.
Hỷ sự, hiếu sự và cặp chữ hiếu hỷ
| Tiêu chí | Hỷ sự (việc hỷ) | Hiếu sự (việc hiếu) |
|---|---|---|
| Là việc gì | Việc vui, chủ yếu là cưới xin | Việc tang ma |
| Màu thường thấy | Đỏ | Trắng |
| Khách mang theo | Phong bì mừng, quà cưới | Phúng viếng, vòng hoa |
| Lời nói | Chúc mừng | Chia buồn |
Ghép hai chữ lại thành hiếu hỷ: từ điển giảng là việc ma chay và việc cưới xin, nói khái quát. Câu “lo việc hiếu hỷ” nghĩa là lo đủ chuyện buồn vui trong họ, trong xóm. Vì sao tang lễ lại mang chữ hiếu thì xem ở bài vì sao tang lễ được gọi là việc hiếu.
Một chỗ hay dùng sai: “hiếu hỷ” trong “tiền hiếu hỷ” khác hẳn “hiếu kỳ” (tò mò). Viết “đám đông hiếu hỷ vây quanh vụ tai nạn” là nhầm; phải là “hiếu kỳ”.
Hỷ hay hỉ, đi hỷ và mừng hỷ
Hỉ sự là gì, có khác hỷ sự không?
Không khác. Hỉ sự và hỷ sự là một từ, chỉ khác cách viết i hay y. Từ điển tiếng Việt in chữ hỉ, còn thiệp cưới, phong bì mừng thì hay in hỷ.
Nhà có hỷ sự là gì?
Là nhà sắp có hoặc đang có đám cưới. Đôi khi người ta cũng dùng cho việc vui khác như sinh con, nhưng nghĩa đám cưới là phổ biến nhất.
Báo hỷ là gì?
Là báo tin cưới cho mọi người, thường bằng thiệp. “Giấy báo hỷ” chính là thiệp cưới.
Đi hỷ là đi đâu?
Là đi dự đám cưới, thường kèm phong bì mừng. Ngược lại, đi viếng đám tang thì người ta nói đi đám hiếu.