Hỷ là chữ Hán Việt 喜, nghĩa là vui mừng; trong tiếng Việt, hỷ (cũng viết hỉ) còn chỉ việc vui của một nhà, trước hết là việc cưới xin. Vì thế mới có “việc hỷ”, “báo hỷ”, “đám hỷ”, và chữ hỷ đỏ dán trên cổng cưới. Hỷ cũng là chữ đầu trong bộ bốn cảm xúc “hỷ, nộ, ái, ố”.
| Nghĩa ngắn | Vui mừng; việc vui, nhất là đám cưới |
| Chữ Hán | 喜, đọc hỷ hoặc hỉ, 12 nét, bộ khẩu 口 |
| Loại từ | Danh từ (việc hỷ); yếu tố ghép trong hoan hỷ, hỷ sự, cung hỷ, báo hỷ |
| Đối lập | Hiếu: việc tang (hiếu hỷ là việc buồn, việc vui) |

Hỷ là gì trong tiếng Việt?
Hiếm khi người Việt nói “hỷ” đứng một mình. Chữ này sống trong các cụm, và mỗi cụm kéo nghĩa về một hướng hơi khác:
- Việc vui, việc cưới: “nhà có việc hỷ”, “đám hỷ”, “giấy báo hỷ”. Từ điển tiếng Việt ghi đúng nét nghĩa này cho mục hỉ: việc vui mừng, thường là việc cưới xin, kèm ví dụ “việc hiếu, việc hỉ”.
- Niềm vui trong lòng: hoan hỷ (vui sướng lộ ra mặt), hỷ hả (vui ra mặt, mãn nguyện).
- Lời chúc mừng: cung hỷ (kính mừng), như trong câu chúc Tết cung hỷ phát tài; nghĩa này được giảng ở bài lời chúc mừng 恭喜 dịp đầu năm.
- Chuyện vui: hỷ sự, cách nói trang trọng của “việc vui”.
Cách nói “có hỷ” trong phim cổ trang lại mang nghĩa khác: nói tránh việc người phụ nữ có thai. Chuyện này được kể riêng ở bài nhà có hỷ và nghĩa có hỷ trong phim xưa.
Về cách viết, hỷ và hỉ là hai cách ghi cùng một âm; từ điển thường lấy “hỉ” làm mục chính, còn thiệp cưới, câu đối hay dùng “hỷ”. Riêng từ ghép thì có hướng dẫn chọn một cách viết, xem bài hoan hỉ hay hoan hỷ mới đúng.
Hỷ và hiếu, hỷ và mấy chữ hỉ thuần Việt
Ông bà ta ghép chữ hỷ với chữ hiếu thành hiếu hỷ, chỉ những việc lớn buồn vui của một nhà. Đám hỷ là đám cưới; đám hiếu là đám tang. Gọi nhầm hai chữ này là chuyện rất phật lòng nhau, nên lời mời, lời chia buồn luôn phải chọn đúng. Nửa còn lại của cặp chữ có ở bài vì sao đám tang gọi là đám hiếu.
Chỗ dễ lẫn thứ hai là những chữ hỉ chẳng liên quan gì tới niềm vui:
| Chữ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Hỷ / hỉ (喜) | Vui mừng; việc cưới | Đám hỷ, hoan hỉ |
| Hỉ (động từ) | Thở mạnh ra đằng mũi cho sạch mũi; đồng nghĩa xì, xỉ | Hỉ mũi |
| Hỉ (trợ từ, phương ngữ) | Dùng cuối câu hỏi như “hả”, “nhỉ” | Răng mi biết hỉ? |
| Hiếu (孝) | Việc tang | Đám hiếu, việc hiếu |
Hai chữ hỉ thuần Việt ở giữa bảng thường chỉ viết bằng i. Không ai viết “hỷ mũi”, và câu hỏi của người miền Trung cũng không mang chút nghĩa “vui mừng” nào. Gần nghĩa với hỷ thì có mừng, vui, hân hoan; trái nghĩa là bi (buồn), sầu, hay trong bộ cảm xúc là nộ (giận).
Chữ hỷ 喜: tiếng trống và lời reo
Chữ 喜 xếp theo lối hội ý: trên là chữ 壴, vẽ một chiếc trống đặt trên giá; dưới là chữ 口, cái miệng. Có trống có miệng là có tiếng nhạc, tiếng cười nói; đó là cách người xưa vẽ ra niềm vui. Đặt hai chữ 喜 cạnh nhau sẽ thành chữ song hỷ 囍 dán trong đám cưới.
Ra khỏi chuyện cưới hỏi, chữ hỷ có hai chỗ đứng quen trong sách vở:
- Hỷ nộ ái ố: vui, giận, thương, ghét. Hỷ đứng đầu trong nhóm “thất tình”, bảy thứ tình cảm của con người theo quan niệm xưa. Có bài riêng về bốn trạng thái vui, giận, thương, ghét.
- Từ, bi, hỷ, xả: bốn tâm rộng lớn trong đạo Phật. Ở đây hỷ không phải niềm vui của riêng mình mà là vui theo niềm vui, thành công của người khác, không ganh tị. Nghĩa này được giảng kĩ ở bài bốn chữ 慈悲喜捨 và lòng rộng lượng.
Cái hay của nghĩa thứ hai là nó khó hơn ta tưởng. Mừng cho chính mình thì dễ; mừng thật lòng khi bạn cùng lớp được giải cao hơn mình mới là chữ hỷ của nhà Phật.
Gặp chữ hỷ trên thiệp, trong sách và khi viết
Hỷ nghĩa là gì trong tiếng Hán?
Chữ 喜 nghĩa là vui mừng, việc tốt lành. Tiếng Trung hiện đại đọc là xǐ; tiếng Việt đọc theo âm Hán Việt là hỷ hoặc hỉ.
Việc hỷ là việc gì?
Là việc vui của gia đình, trong lời nói thường ngày hầu như luôn chỉ đám cưới. Theo nghĩa rộng, mừng thọ hay mừng con đỗ đạt cũng có thể gọi là việc hỷ.
Hỷ trong từ bi hỷ xả là gì?
Là tâm vui cùng niềm vui của người khác, thấy người được điều tốt thì mừng như chính mình được, không đố kị.
Viết hỷ hay hỉ mới đúng?
Cả hai đều ghi cùng một âm của chữ 喜. Văn bản trang trọng, từ điển hay dùng “hỉ”; thiệp cưới, câu chúc lại quen “hỷ”. Chỉ cần thống nhất một cách viết trong cùng một văn bản.
Trên thiệp cưới, chữ hỷ hay đứng đôi thành 囍, và câu chúc song hỷ lâm môn mượn đúng hình ảnh hai niềm vui gõ cửa ấy.