Báo hỷ (còn viết báo hỉ) là báo tin mừng, trước hết là tin nhà có đám cưới, gửi đến họ hàng, bạn bè và người quen. Rộng ra, người ta cũng nói báo hỷ khi báo tin sắp có em bé hay vừa sinh con. Thiệp báo hỷ là tấm thiệp mang tin vui ấy; nó nặng phần báo tin, còn thiệp mời nặng phần mời người nhận đến dự.
| Nghĩa | Báo tin mừng, thường là tin cưới; mở rộng sang tin có em bé, sinh con |
| Gốc | Hán Việt 報喜: báo (cho biết) + hỷ (việc vui mừng) |
| Loại từ | Động từ; “thiệp báo hỷ”, “giấy báo hỷ” là cụm danh từ |
| Thời điểm | Trước ngày cưới vài tuần, hoặc ngay khi có tin vui |
| Cách viết | Báo hỷ và báo hỉ đều được chấp nhận |

Báo hỷ nghĩa là gì?
Chữ báo (報) là cho biết, như trong thông báo, báo tin. Chữ hỷ (喜) là vui mừng, như hoan hỷ, hỷ sự. Trong tiếng Hán, chữ hỷ còn gắn chặt với chuyện cưới xin: thiệp cưới là 喜帖 (hỷ thiếp), tiệc cưới là 喜宴 (hỷ yến). Vì vậy, ở tiếng Việt, “việc hỷ”, “đám hỷ” gần như mặc định là đám cưới.
Báo hỷ, theo nghĩa thông dụng nhất, là nhà có người sắp cưới báo cho mọi người biết tin mừng. Wiktionary tiếng Việt ghi đúng nghĩa này và lấy ví dụ cụm giấy báo hỉ. Từ điển chữ Hán thì giảng rộng hơn: báo tin mừng như cưới hỏi, sinh con. Hai cách hiểu ấy nay cùng tồn tại:
- Hai bác đã gửi thiệp báo hỷ cho cả xóm, cưới vào rằm tháng Mười.
- Đôi vợ chồng trẻ báo hỷ sắp đón con đầu lòng bằng tấm ảnh siêu âm đăng lên trang cá nhân.
- Báo giải trí hay giật tít kiểu “nữ diễn viên báo hỷ” khi người nổi tiếng công bố kết hôn hoặc có thai.
Viết báo hỷ hay báo hỉ đều đúng. Đây là nhóm từ mà âm cuối “i” và “y” cùng được chấp nhận, như kỷ niệm và kỉ niệm; chỉ cần dùng thống nhất một cách trong cùng văn bản.
Thiệp báo hỷ, thiệp mời và cáo phó
| Tiêu chí | Báo hỷ | Mời cưới | Cáo phó |
|---|---|---|---|
| Mục đích | Cho biết tin vui | Mời người nhận đến dự lễ, dự tiệc | Báo tin buồn có người mất |
| Người nhận | Rộng: họ hàng xa, bạn cũ, đồng nghiệp | Hẹp hơn: người được mời có mặt | Họ hàng, người quen, có khi đăng báo |
| Nội dung chính | Tên cô dâu chú rể, cha mẹ hai bên, ngày làm lễ | Thêm tên khách, giờ và địa điểm tiệc | Tên người mất, ngày mất, lịch tang lễ |
| Người nhận nên làm gì | Chúc mừng, không bắt buộc đến | Trả lời có đến dự hay không | Viếng hoặc gửi lời chia buồn |
Đám cưới và đám tang từ lâu được người Việt gọi đối nhau là việc hỷ và việc hiếu, tức đám tang. Báo hỷ và cáo phó vì vậy là hai đầu của cùng một nếp: có chuyện lớn trong nhà thì cho mọi người biết.
Ranh giới giữa báo hỷ và mời cưới ngày nay không còn rạch ròi. Có nhà chỉ gửi thiệp báo hỷ để người quen biết tin, còn tiệc thì chỉ mời người thân; nhưng phần lớn thiệp gửi đi bây giờ là thiệp mời. Nhiều tấm thiệp cưới gộp cả hai: phần báo tin ghi tên cha mẹ hai bên và lễ thành hôn ở nhà, phần mời ghi tên khách và giờ tiệc.
Người ta báo hỷ bằng những cách nào?
Báo tận nơi và thiệp giấy
Trước khi có thiệp in, tin cưới được báo bằng lời: người nhà đến tận nơi thưa chuyện với họ hàng, làng xóm. Về sau, thiệp giấy thay dần lời báo miệng. Thiệp thường in chữ song hỷ màu đỏ, ghi tên cha mẹ hai họ, tên cô dâu chú rể và ngày làm lễ. Thiệp gửi cho người lớn tuổi, họ hàng gần thì vẫn nên đưa tận tay.
Báo hỷ qua tin nhắn và mạng xã hội
Thiệp điện tử gửi qua đường link, một bài đăng kèm ảnh cưới, một tin nhắn trong nhóm lớp cũ: đó đều là báo hỷ theo kiểu bây giờ. Cách này tiện cho bạn bè ở xa, nhưng với ông bà, cô dì chú bác, nhiều nhà vẫn giữ lệ đến nhà báo tin để tỏ lòng kính trọng.
Báo hỷ tin có em bé
Nghĩa này lan rộng nhờ mạng xã hội: ảnh siêu âm, đôi giày sơ sinh đặt cạnh nhau, một dòng “nhà mình sắp thêm thành viên”. Chữ hỷ trong tiếng Hán vốn có cả nghĩa có mang, nên cách dùng này không hề lệch gốc.
Vì sao có tin cưới phải báo hỷ?
Đám cưới của người Việt xưa không chỉ là chuyện của hai người mà là việc của hai họ, của cả làng. Báo cho mọi người biết là để cuộc hôn nhân được thừa nhận, để họ hàng chung vui và biết từ nay nhà có thêm dâu, thêm rể. Cũng vì thế mà nhà có việc hỷ thường dán chữ song hỷ 囍 ở cổng, ở cửa: một cách báo tin không cần lời cho người đi ngang qua. Nghĩa của chữ ghép ấy có ở bài giải nghĩa chữ 囍 trong đám cưới.
Báo hỷ còn là phép lịch sự. Người không được mời dự tiệc vì nhà chật, vì ở xa, vẫn được biết tin và gửi lời chúc. Gặp lại nhau, chẳng ai trách “cưới mà không báo một câu”.
Một lưu ý nhỏ khi viết: “báo hỷ” đã gồm nghĩa “tin vui”, nên câu “báo hỷ tin vui” là thừa chữ. Viết “gửi thiệp báo hỷ” hay “báo tin vui” là đủ.
Nhận thiệp báo hỷ rồi làm gì?
Thiệp báo hỷ là gì?
Là tấm thiệp báo tin một đám cưới sắp diễn ra hoặc vừa diễn ra, thường ghi tên cô dâu chú rể, cha mẹ hai bên và ngày làm lễ. Thiệp báo hỷ có thể đi kèm lời mời dự tiệc hoặc chỉ để báo tin.
Nhận thiệp báo hỷ có phải đi ăn cưới không?
Nếu thiệp chỉ báo tin, không ghi lời mời và giờ tiệc, người nhận không cần đến dự. Một lời chúc mừng qua điện thoại hay tin nhắn là đủ lịch sự; mừng quà hay không tùy độ thân.
Báo hỷ có em bé nghĩa là gì?
Là báo tin vui sắp có con hoặc vừa sinh con. Cách nói này hay gặp trên mạng xã hội và báo giải trí, bên cạnh nghĩa quen thuộc là báo tin cưới.
Báo hỷ tiếng Anh là gì?
Báo tin cưới là wedding announcement; báo tin có em bé là pregnancy announcement hoặc birth announcement nếu bé đã chào đời. Nói chung chung “báo tin vui” thì dùng share the good news.