Định kiến giới là cách nghĩ, thái độ, lời nhận xét nghiêng lệch và thường tiêu cực về đặc điểm, vai trò hay năng lực của một người chỉ vì người đó là nam hoặc nữ. Câu “con gái học khối A làm gì” hay “đàn ông mà khóc thì yếu đuối” đều là ví dụ về định kiến giới: chúng gán sẵn một khuôn cho cả một giới, trước khi kịp nhìn vào con người cụ thể.
| Nghĩa ngắn | Đánh giá thiên lệch về nam hoặc nữ chỉ dựa vào giới |
| Căn cứ pháp lí | Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006 |
| Tiếng Anh | Gender stereotype, gender bias |
| Sắc thái | Tiêu cực; dùng khi phê phán một cách nhìn |

Định kiến giới trong những câu nói quen
Định kiến giới hiếm khi xuất hiện dưới dạng tuyên bố to tát. Nó nằm trong những câu nói buột ra rất tự nhiên ở bữa cơm, ở lớp học, ở chỗ làm:
- “Con trai thì phải mạnh mẽ, ngã thì tự đứng dậy, không được khóc.”
- “Con gái học văn cho nhẹ đầu, kĩ thuật là việc của con trai.”
- “Việc bếp núc để chị em lo, anh em ngồi bàn chuyện lớn.”
- “Nhà này phải có thằng con trai mới đủ.”
- “Đàn ông ở nhà chăm con là thất bại.”
Có thể nhận ra định kiến giới qua một phép thử đơn giản: đổi giới trong câu rồi đọc lại. “Con trai học văn cho nhẹ đầu” nghe lạ tai, chứng tỏ câu gốc không nói về năng lực của từng em mà đang áp một khuôn chung cho cả nửa lớp. Định kiến cũng hiện ra ở việc làm: phân công trực nhật theo kiểu bạn nữ quét lớp, bạn nam khiêng bàn; chọn lớp trưởng mặc định là nam; khen bạn nữ “giỏi như con trai”.
Định kiến giới chỉ là một nhánh; chữ định kiến nói chung, gốc 定見, cùng ví dụ Chí Phèo được trình bày ở khái niệm định kiến.
Luật Việt Nam gọi tên định kiến giới ra sao?
Luật Bình đẳng giới năm 2006, ở khoản 4 Điều 5, định nghĩa: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.” Câu định nghĩa có ba lớp đáng để ý. Nhận thức là điều ta tin, thái độ là cảm xúc đi kèm, đánh giá là kết luận ta rút ra về người khác. Cả ba đều nghiêng một phía và không xuất phát từ con người cụ thể.
Đối tượng của định kiến là cả nam lẫn nữ. Bạn nữ bị cho là kém toán, bạn nam bị cho là không được yếu lòng, cả hai đều bị thiệt. Định kiến cũng thường nhắm vào những người không sống đúng khuôn giới quen thuộc, kể cả người thuộc cộng đồng LGBT. Bài này chỉ giải thích khái niệm; còn chuyện xây dựng sự ngang bằng giữa các giới đã có trong bài tìm hiểu về bình đẳng giới.
Định kiến giới, khuôn mẫu giới và phân biệt đối xử: ba nấc khác nhau
| Khuôn mẫu giới | Định kiến giới | Phân biệt đối xử về giới | |
|---|---|---|---|
| Là gì | Hình dung khái quát về “con trai thường thế này, con gái thường thế kia” | Đánh giá thiên lệch, tiêu cực dựa trên khuôn ấy | Hành động hạn chế, loại trừ, không coi trọng ai đó vì giới |
| Nằm ở đâu | Trong suy nghĩ | Trong suy nghĩ và thái độ | Trong việc làm, quyết định |
| Ví dụ | “Con gái thường khéo tay” | “Con gái thì không làm kĩ sư được” | Không cho bạn nữ vào đội tuyển Tin học dù đủ điểm |
Ba nấc này nối nhau: khuôn mẫu cứng lại thành định kiến, định kiến được đem ra quyết định thì thành phân biệt đối xử. Luật Bình đẳng giới tách riêng khái niệm phân biệt đối xử về giới ở khoản kế tiếp. Định kiến giới cũng là một dạng của những thiên kiến trong cách ta phán đoán, chỉ khác là lấy giới làm điểm tựa.
Ở Mỹ, người tự nhận đã nhìn ra những bất công như phân biệt chủng tộc từng tự nhận là người woke, trước khi chữ này bị dùng để mỉa mai.
Định kiến bén rễ thế nào và cái giá phải trả?
Không ai sinh ra đã có định kiến. Nó được học dần: qua lời người lớn, qua sách truyện, quảng cáo, phim ảnh lặp đi lặp lại hình ảnh mẹ nấu ăn, bố đọc báo; qua cả cách khen chê trong lớp. Ca dao xưa có những câu cho thấy thân phận người phụ nữ bị đặt thấp hơn, đọc lại các câu ca dao nói về người đàn bà xưa sẽ thấy nếp nghĩ ấy có từ rất lâu.
Cái giá trước hết là những lựa chọn bị bó hẹp. Một bạn nữ thích lập trình có thể bỏ ý định vì nghe mãi rằng “nghề đó không hợp con gái”. Một bạn nam muốn học điều dưỡng, mầm non ngại bị chê cười. Lâu dần, định kiến làm người ta tự nghi ngờ năng lực của mình, và xã hội mất đi những người có thể làm tốt một nghề. Nó cũng là gốc của nhiều chuyện nặng nề hơn như gánh việc nhà dồn hết lên một người, hay đối xử khác nhau giữa con trai và con gái trong cùng một nhà.
Sửa từ lời nói là cách dễ bắt đầu nhất. Thay “giỏi như con trai” bằng “giỏi thật”, thay “con trai không được khóc” bằng “buồn thì cứ nói”. Câu ngắn, nhưng đứa trẻ nghe nó mỗi ngày sẽ lớn lên với một cái khuôn rộng hơn.
Định kiến giới quanh ta: ở lớp, trong nhà và trên mạng
Định kiến giới là gì, nói ngắn gọn cho học sinh?
Là nghĩ rằng một người chỉ hợp hoặc không hợp với việc gì đó vì người ấy là nam hay nữ, thay vì nhìn vào sở thích và năng lực thật của họ.
Ví dụ về định kiến giới trong gia đình?
Mặc định con gái rửa bát còn con trai được chơi; chỉ bàn chuyện học đại học với con trai; cho rằng người chồng không cần biết nấu ăn. Đổi giới trong câu mà thấy kì là dấu hiệu dễ nhận.
Định kiến giới có ảnh hưởng đến nam giới không?
Có. Nam giới hay bị ép phải mạnh mẽ, kiếm nhiều tiền, không được bộc lộ nỗi buồn. Điều đó khiến nhiều người ngại chia sẻ, ngại nhờ giúp đỡ khi gặp khó khăn.
Định kiến giới tiếng Anh là gì?
Thường dùng gender stereotype (khuôn mẫu, định kiến về giới) hoặc gender bias (thiên lệch về giới). Hai cụm này gần nhau; stereotype nhấn vào cái khuôn, bias nhấn vào sự nghiêng lệch khi đánh giá.