Định kiến là ý nghĩ, cách đánh giá đã có sẵn trong đầu về một người, một nhóm người hay một việc, thường theo hướng không hay, và rất khó thay đổi dù gặp sự thật khác đi. “Nhà ấy nghèo thì chắc con cũng học kém” là một định kiến. Định kiến xã hội là khi cả một cộng đồng cùng giữ cái nhìn đóng khung như thế.
| Nghĩa ngắn | Ý nghĩ định sẵn, thường tiêu cực, khó thay đổi |
| Gốc từ | Hán Việt 定見: định (đã cố định) + kiến (thấy, ý kiến) |
| Loại từ | Danh từ; “có định kiến với ai” |
| Đồng nghĩa | Thành kiến |
| Tiếng Anh | prejudice; gần với stereotype, bias |

Định kiến là gì?
Từ điển tiếng Việt giải định kiến là ý nghĩ riêng đã có sẵn, thường là không hay, khó có thể thay đổi, kèm ví dụ “hai người có định kiến với nhau”. Ba chữ đáng chú ý nằm ngay trong định nghĩa ấy: có sẵn (hình thành trước khi biết rõ), không hay (phần lớn là chê, nghi ngờ, coi thường), khó thay đổi (sự thật mới đến cũng khó lay).
Vài câu cho thấy cách từ này đi vào lời nói:
- Trong lớp: “Cô có định kiến với em từ hôm em đi học muộn, giờ em làm gì cô cũng nghĩ em lười.”
- Trong nhà: “Bà vẫn giữ định kiến con gái học nhiều cũng chẳng để làm gì.”
- Trên mạng: “Đừng vội gán định kiến cho người ta chỉ vì một tấm ảnh.”
Định kiến hay ẩn dưới những câu tưởng như vô hại: “dân vùng ấy thì…”, “tuổi đó thì biết gì”, “con trai mà khóc à”. Cái nguy của nó là ta không thấy mình đang có định kiến; ta tưởng đó là kinh nghiệm.
Chí Phèo và cánh cửa nhà bà cô Thị Nở
Trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, có một cảnh cho thấy định kiến tàn nhẫn đến mức nào. Sau bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo thức tỉnh, khao khát được làm hòa với mọi người, được sống lương thiện. Nhưng khi Thị Nở về hỏi ý, bà cô thị gạt phắt: đời nào lại đi lấy một thằng chỉ quen rạch mặt ăn vạ. Cả làng Vũ Đại cũng nghĩ vậy về Chí từ lâu.
Bà cô không hề biết Chí vừa thay đổi ra sao. Bà chỉ nhìn bằng cái khung có sẵn, và cái khung ấy đóng sập cánh cửa duy nhất đưa Chí trở về làm người. Câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” của Chí vì thế cũng là lời kết tội định kiến của cả một cộng đồng. Bài phân tích nhân vật Chí Phèo trình bày kĩ hơn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người này.
Định kiến, thành kiến, thiên kiến và khuôn mẫu
| Từ | Nghĩa chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Định kiến | Ý nghĩ định sẵn, thường không hay, khó đổi, về người hay nhóm người | Định kiến với người từng lầm lỗi |
| Thành kiến | Gần như đồng nghĩa; hay dùng khi ấn tượng xấu đã ăn sâu sau một chuyện cụ thể | Hai nhà có thành kiến với nhau từ vụ tranh đất |
| Thiên kiến | Cái nhìn lệch về một phía, kể cả những lệch lạc trong cách suy nghĩ | Chỉ đọc tin hợp ý mình |
| Khuôn mẫu | Hình ảnh khái quát, đơn giản hóa về cả một nhóm | “Người học chuyên Toán thì khô khan” |
| Kỳ thị, phân biệt đối xử | Hành động đối xử bất công xuất phát từ định kiến | Không cho bạn chơi cùng vì hoàn cảnh gia đình |
Có thể hình dung thế này: khuôn mẫu là bức tranh vẽ sẵn về một nhóm, định kiến là thái độ không ưa đi kèm bức tranh ấy, còn kỳ thị là lúc thái độ biến thành việc làm. Thiên kiến rộng hơn cả, vì nó chỉ mọi kiểu lệch trong cách ta nghĩ; bài các kiểu thiên kiến nhận thức có liệt kê những kiểu thường gặp. Trái nghĩa với định kiến là cái nhìn khách quan, cởi mở, công bằng.
Từ “chủ kiến đã định” đến “cái nhìn đóng khung”
Chữ định (定) là yên, cố định, không đổi, như trong ổn định, cố định, quyết định. Chữ kiến (見) là thấy, rồi chuyển sang nghĩa ý kiến, cách nhìn, như trong chủ kiến, chính kiến, kiến giải. Điều thú vị là trong tiếng Hán, 定見 thường chỉ chủ kiến đã định, một cách nhìn vững vàng, không nhất thiết là xấu. Từ điển Hán Việt cũng ghi nghĩa “chủ trương, kiến giải đã có”.
Sang tiếng Việt, cái “đã định” ấy lại nghiêng hẳn về phía tiêu cực: đã định thì không chịu nhìn lại. Muốn nói một người có lập trường vững, tiếng Việt dùng “chính kiến”, “chủ kiến”, chứ không ai khen “anh ấy giàu định kiến”. Giới tâm lý học từ giữa thế kỉ XX đã nghiên cứu định kiến như một hiện tượng xã hội; cuốn The Nature of Prejudice (1954) của nhà tâm lý học Mỹ Gordon Allport là công trình nền tảng, cho rằng định kiến dễ nảy sinh từ thói quen quy người khác vào nhóm và giảm đi khi các nhóm có dịp tiếp xúc, làm việc cùng nhau một cách bình đẳng.
Định kiến trong lời ăn tiếng nói thường ngày
Định kiến nghĩa là gì nói ngắn gọn?
Là ý nghĩ có sẵn, thường xấu, về ai đó hay việc gì đó, hình thành trước khi biết rõ và khó thay đổi. Ví dụ: cho rằng người xăm hình thì không đứng đắn.
Định kiến xã hội là gì?
Là định kiến được nhiều người trong một cộng đồng cùng chia sẻ, truyền qua lời nói, phong tục, phim ảnh. Định kiến về giới, về nghề nghiệp, về vùng miền, về người từng phạm lỗi là những dạng hay gặp.
Định kiến và thành kiến khác nhau thế nào?
Hai từ gần như đồng nghĩa và từ điển ghi chúng là đồng nghĩa. Thành kiến thường nói về một ấn tượng xấu đã “thành” sau một chuyện cụ thể với một người; định kiến dùng rộng hơn, cả với nhóm người và quan niệm chung.
Định kiến tiếng Anh là gì?
Thường dịch là prejudice. Stereotype là khuôn mẫu, bias là thiên kiến, thiên vị; ba chữ này hay đi cùng nhau nhưng không hoàn toàn trùng nghĩa.
Định kiến vùng miền len cả vào những con số: câu trêu quanh biển số 36 của Thanh Hóa cho thấy một lời đùa có thể đóng khung cả một địa phương.
Một dạng hay gặp là định kiến gắn với chuyện là nam hay nữ, như câu con gái học khối A làm gì, được bàn riêng ở định kiến giới.