Đất rừng phương Nam là đoạn trích tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Đoàn Giỏi, văn bản đọc mở đầu Bài 8 Đất nước và con người sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (tập hai). Đoạn trích kể chuyến đi “ăn ong” của bé An cùng tía nuôi và thằng Cò giữa rừng U Minh. Bài viết tổng hợp kiến thức về tác giả Đoàn Giỏi, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, ngôi kể, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, sơ đồ tư duy và tóm tắt đoạn trích cùng toàn bộ tiểu thuyết.
Nội dung văn bản Đất rừng phương Nam
Đoạn trích trong sách giáo khoa lấy từ chương 9 của tiểu thuyết – chương kể chuyện đi lấy mật (sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức cũng trích chương này với nhan đề Đi lấy mật). Phần dưới đây lược thuật theo trình tự sự việc, kèm một vài câu văn tiêu biểu; phần trả lời câu hỏi em xem ở bài soạn bài Đất rừng phương Nam.

Lên đường vào rừng. “Buổi sáng, đất rừng thật là yên tĩnh.” Tía nuôi đi trước, mang túi da beo, gùi tre và dao rừng phát lối; thằng Cò đội thúng đựng nước, cơm nắm; An mang chiếc gùi nhỏ má nuôi đi mượn; con chó săn tên Luốc chạy quanh các bụi cây. Đây là lần đầu An được theo đi “ăn ong”. Trước đó, má nuôi đã kể cho An cách gác kèo, điều mà sách vở ở trường chưa từng nói tới.
Nghỉ chân giữa rừng. Thấy An mệt, tía nuôi cho cả nhà dừng lại nghỉ, ăn cơm. Thằng Cò đố An nhận ra con ong mật; An nhìn mãi không thấy, phải nhờ tía chỉ mới nhận ra đàn ong bay như một xâu chuỗi hạt. “Phải hết sức tinh mắt, thính tai mới tìm được những tay sứ giả của bình minh này.” Nắng lên, rừng bừng tỉnh: chim hót, hương tràm ngây ngất, những con kì nhông đổi màu da liên tục.
Đường đến chỗ lấy mật. Qua trảng cỏ tranh, một bầy chim hàng nghìn con vụt bay lên. An trầm trồ, còn Cò chê “thứ chim cỏ” và nhắc đến “sân chim”; An tự ái, không muốn hỏi vì sợ bạn chê mình dốt. Đến chỗ lấy mật, nhìn tổ ong trên cây tràm thấp, An nhớ lại lời má nuôi về cách chọn vùng rừng, xem hướng gió, chặt kèo tràm gác lên cây: “Gió thổi có hướng, cây tốt cũng có vùng.”
Lấy mật. Tía nuôi đứng trên hướng gió, dùng khói điếu thuốc lá lớn hun tổ ong. Ong vỡ tổ bay mù mịt, Cò bị ong đốt. An vội bứt cỏ, sậy khô đưa tía đốt ong, nhưng tía ngăn lại: “Đừng! Không nên giết ong, con à!” Ông bôi vôi cho Cò, rồi dùng khói của một thứ thuốc hôi xua đàn ong đi và gỡ tầng mật vàng. “Từ sáng sớm đến lúc gần về chiều, tía nuôi tôi đã gỡ hơn năm mươi kèo ong.” Mật đầy hai gùi, tía hẹn hôm sau đi tiếp.
Suy ngẫm của An. Lúc nghỉ ăn cơm, An so sánh cách nuôi ong của người La Mã, Mễ Tây Cơ, Ai Cập, châu Phi, Tây Âu mà thầy giáo từng kể, và đi đến nhận xét: “Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U Minh này cả.”
Thông tin tác giả Đoàn Giỏi
Đoàn Giỏi (1925 – 1989) quê ở làng Tân Hiệp, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho cũ (sau thuộc Tiền Giang, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Ông xuất thân trong một gia đình địa chủ giàu có ven sông Tiền, thời trẻ từng học Trường Mỹ thuật Gia Định. Năm 1945, ông tham gia cách mạng, làm công tác an ninh, thông tin, văn nghệ ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp.
Sau năm 1954, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc, từ năm 1955 chuyển hẳn sang sáng tác, biên tập sách báo; ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Sau năm 1975, ông trở về miền Nam và mất tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1989. Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Đoàn Giỏi viết nhiều thể loại: thơ, kịch thơ, kí, truyện, biên khảo, nhưng thành công nhất ở mảng truyện về thiên nhiên và con người Nam Bộ. Trang văn của ông giàu vốn hiểu biết về cây cỏ, muông thú, phong tục phương Nam, ngôn ngữ đậm chất địa phương, giọng kể mộc mạc mà hấp dẫn. Tác phẩm tiêu biểu: Đất rừng phương Nam (1957), Cá bống mú (1956), Hoa hướng dương (1960), Cuộc truy tầm kho vũ khí (1962)… Danh mục đầy đủ em xem ở bài những tác phẩm của Đoàn Giỏi.
Thông tin tác phẩm Đất rừng phương Nam
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi học đoạn trích.
Xuất xứ đoạn trích
Đoạn trích thuộc chương 9 của tiểu thuyết Đất rừng phương Nam. Văn bản trong sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo in theo Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, 2015, trang 148 – 158; một số đoạn được lược bớt (đánh dấu […]). Tiểu thuyết gồm 20 chương, kể về cuộc đời lưu lạc của bé An.
Hoàn cảnh sáng tác
Tiểu thuyết được xuất bản năm 1957, khi Đoàn Giỏi đã tập kết ra Bắc. Tác phẩm được viết từ nỗi nhớ quê hương và vốn sống phong phú của nhà văn qua những năm kháng chiến ở miền Tây Nam Bộ. Câu chuyện đặt trong bối cảnh Nam Bộ cuối những năm 1940, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, người dân phải chạy giặc.
Thể loại, ngôi kể và điểm nhìn
- Thể loại: tiểu thuyết (truyện dài viết cho thiếu nhi); văn bản là một đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất – nhân vật An xưng “tôi” kể lại chuyện.
- Điểm nhìn: chủ yếu là điểm nhìn của An (cậu bé từ thành phố, lần đầu vào rừng), có lồng điểm nhìn của má nuôi (qua lời kể về cách gác kèo), của tía nuôi và thằng Cò (những người sành rừng).
Nhân vật trong đoạn trích
- An: cậu bé thông minh, ham hiểu biết, tinh tế trong quan sát, giàu lòng tự trọng.
- Thằng Cò: con ruột của tía nuôi, khỏe mạnh, rành rẽ rừng U Minh, tinh nghịch, hay làm ra vẻ hiểu biết với An.
- Tía nuôi: người lao động dày dạn kinh nghiệm, điềm tĩnh, thương con, trân trọng thiên nhiên.
- Má nuôi: không trực tiếp đi lấy mật nhưng là người truyền kinh nghiệm gác kèo cho An.
Bố cục: đoạn trích Đất rừng phương Nam có mấy phần?
Đoạn trích có thể chia làm 4 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “sục sạo trong các bụi cây”): chuẩn bị lên đường đi “ăn ong”.
- Phần 2 (tiếp theo đến chỗ An tự ái không hỏi Cò về “sân chim”): trên đường vào rừng, An cảm nhận thiên nhiên buổi sáng.
- Phần 3 (từ “Lội qua mấy vũng lầy sâu quá gối” đến “ăn cơm cho lại sức trước khi trở về”): quá trình lấy mật.
- Phần 4 (còn lại): An suy ngẫm về cách nuôi ong độc đáo ở rừng U Minh.
Giá trị nội dung
- Tái hiện bức tranh thiên nhiên rừng U Minh hoang sơ, trù phú, đầy sức sống.
- Giới thiệu nghề “ăn ong” – cách gác kèo lấy mật độc đáo, thể hiện trí tuệ và kinh nghiệm của người dân Nam Bộ.
- Khắc họa con người phương Nam chất phác, tình nghĩa, am hiểu và trân trọng thiên nhiên (lời tía nuôi “không nên giết ong”).
- Thể hiện tình cảm gia đình ấm áp giữa An với gia đình nuôi, tình yêu và niềm tự hào về đất rừng phương Nam.
Giá trị nghệ thuật
- Ngôi kể thứ nhất qua điểm nhìn của một cậu bé ham hiểu biết, tạo cảm giác chân thực, hồn nhiên.
- Miêu tả thiên nhiên tinh tế, giàu màu sắc, âm thanh, hương vị; kết hợp nhuần nhuyễn kể, tả và biểu cảm.
- Khắc họa nhân vật qua lời thoại, hành động; đặt An và Cò trong thế tương phản.
- Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ (tía, má, “ăn ong”, kèo, gùi…), vốn hiểu biết phong phú về tự nhiên.
Ý nghĩa nhan đề Đất rừng phương Nam
Nhan đề gọi tên không gian của câu chuyện: vùng đất rừng miền Tây Nam Bộ. Đó không chỉ là bối cảnh mà còn như một nhân vật lớn của tiểu thuyết, với rừng tràm, rừng đước, sông rạch, muông thú và những con người phóng khoáng, nghĩa tình, kiên cường chống giặc. Nhan đề thể hiện tình yêu và niềm tự hào của nhà văn với quê hương phương Nam.
Sơ đồ tư duy Đất rừng phương Nam
Sơ đồ dưới đây gom sáu nhóm kiến thức chính của đoạn trích.

Tóm tắt Đất rừng phương Nam
Hai mẫu dưới đây tóm tắt ngắn đoạn trích và cả tiểu thuyết; em có thể đọc thêm bài phân tích đoạn trích Đi lấy mật (cùng chương 9).
Mẫu 1 – Tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam ngắn nhất
An theo tía nuôi và thằng Cò vào rừng U Minh đi “ăn ong”. Trên đường đi, An say mê ngắm cảnh rừng buổi sáng, học cách nhận ra đàn ong mật, nhớ lại lời má nuôi về cách gác kèo. Tía nuôi dùng khói xua ong, lấy được hơn năm mươi kèo mật, dặn An không nên giết ong. An tự hào vì cách nuôi ong bằng kèo của vùng U Minh không nơi nào có.
Mẫu 2 – Tóm tắt tiểu thuyết Đất rừng phương Nam ngắn gọn
Khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, cậu bé An theo cha mẹ chạy giặc rồi lạc mất gia đình. An được dì Tư Béo cưu mang ở một quán ăn trong xóm chợ, tại đây cậu gặp nhiều người, trong đó có cha con ông lão bán rắn và vợ chồng Tư Mắm – Việt gian. Bị lộ vì biết bí mật của chúng, An phải bỏ đi, rồi được ông lão bán rắn nhận làm con nuôi. Sống cùng tía nuôi, má nuôi và thằng Cò, An theo gia đình đi câu rắn, lấy mật, gặp chú Võ Tòng can trường. Võ Tòng hi sinh vì bị chỉ điểm; giặc chiếm rừng U Minh Thượng, gia đình An phải phiêu bạt xuống miền cực Nam. Cuối truyện, An gặp lại dì Tư Béo và đi theo những người du kích.
Lời kết
Đoạn trích Đất rừng phương Nam vừa là trang văn miêu tả thiên nhiên đặc sắc, vừa là bài học về cách con người sống hòa hợp với rừng. Khi ôn tập, em cần nhớ tác giả Đoàn Giỏi, xuất xứ chương 9, ngôi kể thứ nhất và điểm nhìn của An, bố cục bốn phần, vẻ đẹp thiên nhiên – con người Nam Bộ và nghề gác kèo ong độc đáo.
Xem thêm:
- Soạn bài Đất rừng phương Nam (Chân trời sáng tạo)
- Đi lấy mật (Đoàn Giỏi): tóm tắt, đề tài, sơ đồ tư duy
- Người đàn ông cô độc giữa rừng: tác giả, tác phẩm
- Những tác phẩm tiêu biểu của Đoàn Giỏi
- Sông nước Cà Mau (Đoàn Giỏi) – Ngữ văn 6: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung