Con người là danh từ chỉ người nói chung, khi ta muốn nhấn vào những đặc điểm làm nên bản chất của người: biết suy nghĩ, có ngôn ngữ, có tình cảm, sống thành xã hội. Trong sinh học, đó là loài Homo sapiens; trong triết học, khái niệm con người được bàn qua cả nghìn năm mà vẫn chưa có một định nghĩa duy nhất. Bài này đi từ nghĩa của từ đến bản chất con người theo vài cách nhìn quen thuộc.
| Nghĩa ngắn | Người, xét về những đặc trưng bản chất; cũng chỉ toàn bộ tính cách của một người cụ thể |
| Loại từ | Danh từ (ghép từ “con” và “người”) |
| Hán Việt tương ứng | Nhân (人), như trong nhân loại, nhân tính, nhân văn |
| Tiếng Anh | human, human being; man (cách dùng cũ) |

Con người là gì?
Từ điển giải nghĩa con người là “người, về mặt những đặc trưng bản chất nào đó”, kèm ví dụ quen thuộc như cuộc sống của con người. Hiểu đơn giản, khi nói “người” ta chỉ một ai đó; khi nói “con người” ta đang nói đến cái chung, cái phẩm chất làm nên giống người.
Từ này có hai tầm nhìn rất khác nhau trong câu:
- Tầm rộng, cả loài: Con người đã đặt chân lên Mặt Trăng. Rừng bị tàn phá thì con người cũng chịu hậu quả.
- Tầm hẹp, một cá nhân: Con người anh ấy chân chất, nói gì làm nấy. Ở đây “con người” gần với tính cách, phẩm chất của riêng một người, gần nghĩa với nhân cách theo nghĩa chữ 人格.
Nghĩa hẹp hay dùng khi khen chê: “con người ấy sống được”, “đúng là con người của công việc”. Nghĩa rộng xuất hiện nhiều trong sách giáo khoa, báo chí, khoa học.
Vì sao người lại đi với chữ con?
Chữ con trong tiếng Việt vốn chỉ đứa con, rồi được dùng như một loại từ đứng trước danh từ: con mèo, con sông, con dao, con đường. Với người, “con” xuất hiện trong con trai, con gái, con người, và cả trong câu tục ngữ quen con người có tổ có tông.
Điều thú vị là người Việt không thấy “con người” có gì hạ thấp, dù cùng chữ con với con vật. Ngược lại, khi đặt “con” trước “người”, câu văn có vẻ trang trọng và khái quát hơn. So “người Việt Nam” với “con người Việt Nam”: cụm thứ hai không đếm ai cả, nó nói về tính cách, phẩm chất chung của cả một dân tộc.
Bản chất con người nhìn từ ba phía
Sinh học xếp con người vào loài Homo sapiens, một loài linh trưởng đi bằng hai chân, có bộ não lớn và phức tạp, sống thành cộng đồng đông đúc. Đó là phần “con” của con người: cần ăn, ngủ, có bản năng, có những cảm xúc mà bài bảy thứ tình và sáu thứ dục đã gọi tên theo lối người xưa.
Triết học thì hỏi xa hơn. Aristotle cho rằng con người là sinh vật sống theo cộng đồng, không thể tách khỏi người khác. Pascal ví con người như cây sậy yếu ớt nhất trong tự nhiên, nhưng là cây sậy biết suy nghĩ. Triết học Mác, được học trong chương trình phổ thông Việt Nam, xem con người là thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội, với bản chất là tổng hòa các quan hệ xã hội. Ai muốn đi sâu có thể đọc thêm triết học bắt đầu từ câu hỏi gì.
Văn chương trả lời bằng nhân vật. Tục ngữ nói người ta là hoa đất, coi con người là thứ đẹp nhất mà đất trời sinh ra. Những câu như một mặt người bằng mười mặt của đặt con người trên của cải. Rất nhiều câu như vậy được gom ở trang ca dao, tục ngữ nói về đạo làm người.
Con người, người, nhân loại: dùng chữ nào?
| Từ | Điểm nhấn | Ví dụ |
|---|---|---|
| Người | Một hay nhiều cá thể cụ thể; trung tính | Có ba người đứng đợi. |
| Con người | Bản chất, phẩm chất chung; hoặc toàn bộ tính cách một người | Con người cần được tôn trọng. |
| Loài người | Cả giống loài, đặt cạnh các loài khác | Lịch sử loài người. |
| Nhân loại | Hán Việt, trang trọng; toàn thể người trên thế giới | Di sản của nhân loại. |
| Con vật, cầm thú | Đối lập thường gặp trong văn nghị luận | Sống như cầm thú (lời chê nặng). |
Trong bài văn, đừng viết “có năm con người tham gia”: “con người” không dùng để đếm. Viết “năm người” là đủ. Cũng nên tránh lặp “con người” quá dày; thay bằng “mỗi người”, “chúng ta”, “loài người” tùy ý câu.
Câu nào bỏ chữ con, đổi sang loài người hay nhân loại mà vẫn giữ nghĩa được thử từng ví dụ trong đồng nghĩa, trái nghĩa với con người.
Câu chữ con người trong đề văn và từ điển
Khái niệm con người trong triết học là gì?
Không có một định nghĩa thống nhất. Cách hiểu phổ biến trong chương trình học ở Việt Nam là: con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội, vừa là sản phẩm của tự nhiên và lịch sử, vừa là chủ thể cải tạo chúng.
Bản chất con người là gì?
Theo triết học Mác, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Nói dễ hiểu: mỗi người thành ra thế nào phụ thuộc rất nhiều vào gia đình, bạn bè, lao động và cộng đồng quanh mình, chứ không chỉ do bẩm sinh.
Con người tiếng Anh là gì?
Thường dịch là human hoặc human being; số nhiều nói chung là humans hay people. Từ man cũng từng mang nghĩa “con người”, nay hay được thay bằng humankind để không thiên về nam giới.
Con người khác con vật ở điểm nào?
Các câu trả lời hay nhắc tới: biết lao động có mục đích và chế tạo công cụ, có ngôn ngữ phức tạp, có ý thức về bản thân và về cái chết, biết đặt ra luật lệ, đạo đức. Ranh giới này vẫn được khoa học bàn tiếp khi nghiên cứu các loài linh trưởng.