Chính luận là lối văn nghị luận bàn về những vấn đề chính trị, xã hội nóng hổi của một thời, nói thẳng quan điểm của người viết để thuyết phục và kêu gọi người đọc hành động. Văn chính luận vì thế vừa cần lí lẽ chặt chẽ vừa cần lửa cảm xúc. Trong sách Ngữ văn, các văn bản chính luận quen thuộc là hịch, cáo, chiếu, tuyên ngôn và lời kêu gọi.
| Khái niệm | Văn nghị luận về các vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự |
| Nghĩa của từ | Hán Việt 政論: “chính” là việc nước, việc cai trị; “luận” là bàn bạc |
| Thuộc | Một nhánh của văn nghị luận |
| Dấu hiệu nhận biết | Quan điểm công khai, lập luận chặt, giọng hùng hồn, hướng tới số đông |
| Văn bản tiêu biểu | Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Chiếu dời đô, Tuyên ngôn Độc lập |

Chính luận: bàn chuyện việc nước
Tách chữ ra sẽ thấy gần hết ý nghĩa. Chính (政) là việc nước, việc trị dân; luận (論) là bàn, xét lẽ phải trái. Ghép lại, chính luận là bàn về việc nước. Tiếng Trung hiện đại dùng chữ này với nghĩa “bình luận chính trị”, còn tiếng Việt dùng rộng hơn một chút cho cả những bài viết về vận mệnh dân tộc, đạo lí xã hội, các vấn đề thời sự lớn.
Trong giới nghiên cứu văn học, Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) coi văn chính luận là một dạng văn nghị luận. Đề tài của nó trải từ việc nước, kinh tế tới văn hóa, tư tưởng; còn đích đến là đem một quan điểm ra tranh luận, phê phán hay phổ biến ngay trong lúc vấn đề đang nóng. Nói cách khác, văn chính luận không viết để ngắm. Nó viết cho một lúc cụ thể, gửi tới những người cụ thể, và mong họ làm một việc cụ thể.
Ở chương trình Ngữ văn cũ, học sinh còn gặp khái niệm “phong cách ngôn ngữ chính luận”, tức kiểu dùng từ, đặt câu đặc trưng của các văn bản này. Chương trình mới không học tách riêng phong cách ấy mà đưa các văn bản chính luận vào nhóm văn bản nghị luận, đọc cùng các bài văn nghị luận nói chung. Sáu phong cách của chương trình cũ, chính luận là một, được hệ thống cùng đặc trưng từng loại ở bài phong cách ngôn ngữ là gì.
Từ Hịch tướng sĩ đến Tuyên ngôn Độc lập: chính luận qua các văn bản SGK
Hịch tướng sĩ: lời khích lệ trước giờ ra trận
Trần Quốc Tuấn viết bài hịch trước cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai. Đối tượng là tướng sĩ dưới quyền, mục đích là khiến họ chăm luyện binh thư, sẵn sàng chiến đấu. Bài hịch có đủ chất chính luận: nêu gương trung thần nghĩa sĩ, phơi bày tội ác của giặc, bày tỏ nỗi lòng của chủ tướng, phê phán thói ăn chơi của tướng sĩ, rồi chỉ ra con đường phải đi. Lí lẽ và cảm xúc đan vào nhau, khi nghiêm khắc, khi thiết tha. Muốn xem kĩ trình tự lập luận ấy, đọc dàn ý phân tích bài hịch của Trần Quốc Tuấn.
Bình Ngô đại cáo: tuyên bố trước thiên hạ
Bài cáo Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi sau chiến thắng quân Minh mở đầu bằng luận đề nhân nghĩa, rồi khẳng định tư cách một quốc gia độc lập:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Những chữ “từ trước”, “vốn xưng”, “đã lâu” biến điều được nói thành một sự thật hiển nhiên, không cần tranh cãi. Đó là thủ pháp rất chính luận: đặt nền móng lập luận ở chỗ người nghe khó bác nhất. Phần trích này được học riêng ở lớp 8 với tên bài soạn Nước Đại Việt ta.
Tuyên ngôn Độc lập: chính luận hiện đại
Bản tuyên ngôn năm 1945 cũng đi theo đường ấy, nhưng bằng ngôn ngữ hiện đại. Văn bản mở đầu bằng những câu trích từ tuyên ngôn của Mỹ và Pháp làm cơ sở pháp lí, tiếp đến là chứng cứ lịch sử, cuối cùng là lời tuyên bố. Câu ngắn, giọng đanh, luận điểm xếp theo từng tầng. Ở Ngữ văn 12, văn bản này thường được chọn làm mẫu cho kiểu văn bản nghị luận mang tính chính luận. Xem thêm bố cục và giá trị bản Tuyên ngôn Độc lập.
Năm nét giúp nhận diện một văn bản chính luận
- Vấn đề mang tính thời sự, liên quan đến cộng đồng. Không phải chuyện riêng một người. Đó là vận nước, quyền của một dân tộc, một vấn đề cả xã hội đang quan tâm.
- Quan điểm công khai. Người viết đứng hẳn về một phía và nói ra, không lấp lửng. Văn chính luận hiếm khi kết bằng “mỗi bên đều có lí”.
- Lập luận chặt. Có luận đề, các luận điểm xếp theo trình tự, mỗi luận điểm có lí lẽ và dẫn chứng, nối với nhau bằng những từ chuyển ý rõ ràng. Ai cần ôn lại hai khái niệm nền này có thể đọc bài về luận điểm, luận cứ và cách sắp xếp.
- Giọng văn có sức lay động. Câu hỏi tu từ, phép điệp, câu cảm thán, lời hô gọi trực tiếp người đọc xuất hiện dày hơn ở văn nghị luận thông thường.
- Hướng tới hành động. Đọc xong, người viết muốn người đọc thay đổi: đứng lên, đồng lòng, ủng hộ hay từ bỏ một điều gì.
Một mẹo nhỏ khi làm đọc hiểu: tìm câu nói thẳng với người đọc (kiểu “các ngươi”, “hỡi đồng bào”). Nếu có, khả năng cao đó là văn bản chính luận.
Chính luận, nghị luận văn học và bài báo khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Văn chính luận | Nghị luận văn học | Tin, bài báo thông tin |
|---|---|---|---|
| Bàn về | Vấn đề chính trị, xã hội lớn của thời đại | Tác phẩm, tác giả, hiện tượng văn học | Sự kiện vừa xảy ra |
| Mục đích | Thuyết phục, kêu gọi hành động | Phân tích, đánh giá cái hay của văn chương | Cung cấp thông tin |
| Thái độ người viết | Công khai, dứt khoát | Có quan điểm nhưng thiên về cảm thụ | Trung lập là chính |
| Giọng điệu | Hùng hồn, đanh thép hoặc thiết tha | Mềm hơn, nhiều cảm nhận | Khách quan, ngắn gọn |
| Ví dụ | Hịch tướng sĩ, Tuyên ngôn Độc lập | Một bài phân tích Thu điếu | Bản tin thời tiết, tin thể thao |
Ranh giới không phải lúc nào cũng rõ. Bài xã luận trên báo vừa là báo chí vừa là chính luận, vì nó bàn chuyện thời sự bằng lập luận và nêu quan điểm của tờ báo. Còn bài nghị luận xã hội của học sinh, như bàn về lòng yêu nước hay trách nhiệm của tuổi trẻ, mượn khá nhiều cách viết của văn chính luận dù không mang mục đích chính trị.
Bài tập: nhận ra văn chính luận trong đề đọc hiểu
Câu 1: Trong các văn bản sau, văn bản nào thuộc văn chính luận: Thu điếu, Hịch tướng sĩ, Chiếu dời đô, Lão Hạc, Tuyên ngôn Độc lập?
Đáp án: Hịch tướng sĩ, Chiếu dời đô và Tuyên ngôn Độc lập. Cả ba bàn về việc lớn của quốc gia (chống giặc, dời đô, tuyên bố độc lập), nêu quan điểm rõ và nhằm thuyết phục số đông. Thu điếu là thơ trữ tình, Lão Hạc là truyện ngắn.
Câu 2: Vì sao Chiếu dời đô được xếp vào văn chính luận dù là một bài chiếu của nhà vua?
Đáp án: Chiếu là văn bản vua dùng để ban bố mệnh lệnh, nhưng Chiếu dời đô không chỉ ra lệnh. Lý Công Uẩn lập luận: dẫn chuyện các triều đại trước từng dời đô, chỉ ra điểm bất lợi của đất cũ, nêu thế mạnh của thành Đại La, rồi mới hỏi ý triều thần. Có vấn đề hệ trọng, có lí lẽ, có dẫn chứng, có mục đích thuyết phục, nên đó là văn chính luận. Xem thêm soạn Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.
Câu 3: Chỉ ra hai dấu hiệu chính luận trong hai câu “Như nước Đại Việt ta từ trước, / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.
Đáp án: Thứ nhất, vấn đề được bàn là tư cách độc lập của cả một quốc gia, mang tính cộng đồng. Thứ hai, cách nói khẳng định chắc chắn (“từ trước”, “vốn xưng”, “đã lâu”) cho thấy quan điểm công khai, đặt luận điểm như một chân lí, làm nền cho cả bài cáo.
Câu 4: Một bài báo đưa tin “Sáng nay, thành phố khai trương tuyến xe buýt mới” có phải văn chính luận không? Vì sao?
Đáp án: Không. Bài báo chỉ thông báo một sự kiện, không bàn luận, không nêu quan điểm và không kêu gọi người đọc làm gì. Nếu cũng tờ báo đó đăng một bài xã luận bàn vì sao thành phố cần ưu tiên xe buýt thay xe cá nhân thì bài xã luận ấy mới mang tính chính luận.
Chữ “chính” trong chính luận và mấy điểm cần tách bạch
Văn chính luận là gì, nói ngắn cho dễ nhớ?
Là văn bàn việc nước, việc đời bằng lí lẽ, để người đọc tin theo và hành động. Ba chữ cần nhớ: thời sự, công khai, thuyết phục.
Chính luận có phải là chính trị không?
Không hoàn toàn. Chữ “chính” gợi tới việc nước nên nhiều văn bản chính luận đụng tới chính trị, nhưng chính luận là một lối viết, còn chính trị là một lĩnh vực. Bàn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường bằng giọng nghị luận công khai, hướng tới cộng đồng cũng là chính luận.
Văn chính luận trung đại gồm những thể nào?
Các thể thường gặp là chiếu, hịch, cáo, biểu và thư. Mỗi thể có người viết, người nhận và mục đích riêng: chiếu là vua ban xuống, biểu là bề tôi dâng lên, hịch để kêu gọi, cáo để tuyên bố một việc lớn.
Viết “chính luận” hay “chánh luận”?
Chuẩn là chính luận. “Chánh” là cách đọc cũ ở miền Nam của chữ 政 (như “chánh phủ”), nay sách vở và đề thi đều dùng “chính”.