Cáo phó là bản tin báo việc tang: gia đình dùng nó để báo cho họ hàng, làng xóm, bạn bè biết một người vừa qua đời, kèm giờ nhập quan, lễ viếng, đưa tang và nơi an táng. Hỏi “cáo phó nghĩa là gì” thì có thể đáp gọn là “báo tin tang”, vì đó đúng là nghĩa của hai chữ Hán ghép nên từ này.
| Nghĩa | Danh từ: bản viết báo tin tang lễ. Động từ: báo tin về việc tang |
| Gốc | Hán Việt 告訃: cáo là báo cho biết, phó là báo tin có tang |
| Thời điểm | Ngay sau khi người thân mất, trước các lễ nhập quan, phát tang, viếng |
| Hình thức | Giấy dán trước cổng, thiệp gửi từng nhà, tin trên báo, loa, mạng xã hội |

Nghĩa của hai chữ cáo phó
Từ điển tiếng Việt xếp cáo phó vào cả hai từ loại. Là động từ, nó có nghĩa “báo tin về việc tang”, như trong thư cáo phó. Là danh từ, nó chỉ “bản viết đăng tin tang lễ”, như khi nói đăng cáo phó trên báo, đọc cáo phó. Ngày nay người ta dùng nghĩa danh từ nhiều hơn hẳn.
Chữ cáo (告) quen thuộc trong thông cáo, báo cáo, cáo từ: đem một điều nói cho người khác biết. Chữ phó (訃) thì hẹp hơn nhiều. Thiều Chửu giảng là “báo tin có tang” và ghi chú người Việt gọi việc ấy là cáo phó. Trong tiếng Hán, hai chữ thường đứng theo thứ tự ngược lại thành phó cáo (訃告); tiếng Việt quen nói cáo phó.
Một từ gần nghĩa hay gặp trên giấy tờ của cơ quan là tin buồn hay thông báo tin buồn. Gia đình thường để tiêu đề “Cáo phó”, còn cơ quan, đoàn thể hay dùng “Tin buồn” cho trang trọng.
Vì sao nhà có tang phải báo tin cho mọi người?
Với người Việt, đám tang không phải việc riêng của một nhà. Họ hàng nội ngoại, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp đều cần biết để đến thắp nén hương, giúp một tay, tiễn người đi chặng cuối. Câu “nghĩa tử là nghĩa tận” nói đúng tinh thần ấy: với người đã khuất, tình nghĩa phải trọn vẹn đến cùng. Báo tang đầy đủ và kịp thời vì thế được coi là phần đầu tiên của đạo hiếu trong một đám tang mà người Việt gọi là đám hiếu.
Cách báo tin đổi theo thời gian. Bách khoa Wikipedia mô tả cáo phó thường được đặt trước cổng nhà có tang hoặc gửi tới từng người thân, và nay có thể đăng trên các phương tiện truyền thông hay gọi điện báo tin. Một từ điển cũ còn ghi câu mẫu “Cáo phó này thay thế thiệp tang”, cho thấy xưa kia nhiều gia đình gửi thiệp riêng cho từng nhà, còn khi đã đăng cáo phó trên báo thì coi như báo cho tất cả. Ở nhiều làng quê, tin tang vẫn được đọc trên loa của thôn, xóm.
Một bản cáo phó thường ghi những gì
Về cách viết cáo phó, không có mẫu bắt buộc theo luật, nhưng bản cáo phó của gia đình thường đi theo trình tự khá giống nhau:
- Tiêu đề “Cáo phó”, dưới là câu mở như “Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin”.
- Thông tin người mất: họ tên (thường có cách gọi kính trọng như cụ ông, cụ bà), năm sinh, quê quán, nơi ở.
- Thời điểm mất: giờ, ngày dương lịch, nhiều nhà ghi thêm ngày âm lịch; kèm số tuổi với chữ hưởng thọ hoặc hưởng dương.
- Lịch tang lễ: nơi quàn linh cữu, giờ khâm liệm và nhập quan, giờ bắt đầu viếng, lễ truy điệu, lễ di quan, nơi an táng hoặc hỏa táng.
- Tang quyến: danh sách con, dâu, rể, cháu chắt, xếp theo thứ bậc; nhiều bản chỉ ghi người đại diện gia đình.
- Lời kết như “Đồng kính báo”, “Trân trọng kính báo”. Gia đình không nhận tiền phúng viếng hay vòng hoa thì ghi rõ ở cuối.
Về chữ chỉ tuổi, cách dùng phổ biến là: người mất từ sáu mươi tuổi trở lên ghi hưởng thọ, người mất khi chưa tới sáu mươi ghi hưởng dương. Một số gia đình vẫn viết “hưởng thọ” cho người dưới sáu mươi; đây là thói quen dùng từ, không ai bắt lỗi trong lúc tang gia bối rối. Trước khi in, nên đối chiếu họ tên, ngày giờ với giấy báo tử để tránh sai sót.
Cáo phó, phân ưu, điếu văn và giấy báo tử
| Loại | Ai làm | Để làm gì |
|---|---|---|
| Cáo phó | Gia đình người mất (hoặc cơ quan, với tiêu đề “Tin buồn”) | Báo tin người mất và lịch tang lễ |
| Lời phân ưu | Người ngoài gia đình: bạn bè, đồng nghiệp, tổ chức | Chia buồn với tang quyến; xem thêm nghĩa của lời thành kính phân ưu |
| Điếu văn | Đại diện gia đình hoặc tổ chức | Đọc trong lễ truy điệu, kể lại cuộc đời và tưởng nhớ người mất |
| Giấy báo tử | Bệnh viện hoặc cơ quan có thẩm quyền | Giấy tờ pháp lý dùng để đăng ký khai tử |
Nói ngắn: cáo phó là lời của nhà có tang gửi ra ngoài, phân ưu là lời từ bên ngoài gửi vào.
Phía người đến viếng thì có lễ vật mang theo, từ nén hương, vòng hoa đến phong bì; chữ phúng điếu và cách đi viếng cho đúng lễ có lời giảng rõ.
Hỏi đáp về cáo phó cho người lần đầu lo việc tang
Cáo phó tiếng Anh là gì?
Tương đương gần nhất là death notice, một thông báo ngắn về việc ai đó qua đời và lịch tang lễ. Chữ obituary cũng hay được dịch là cáo phó, nhưng trên báo chí nước ngoài nó thường là bài viết dài hơn, điểm lại cuộc đời người mất.
Hưởng thọ và hưởng dương khác nhau thế nào?
Theo cách dùng phổ biến, “hưởng thọ” dành cho người mất khi đã từ sáu mươi tuổi trở lên, “hưởng dương” dành cho người mất trẻ hơn. Chữ “thọ” vốn gắn với tuổi cao, nên người ta tránh dùng cho người ra đi sớm.
Cáo phó có phải viết theo mẫu bắt buộc không?
Không. Đây là văn bản theo phong tục chứ không phải giấy tờ hành chính có mẫu thống nhất. Miễn là đủ thông tin người mất, thời gian và nơi tổ chức tang lễ, lời lẽ trang nghiêm, gia đình có thể trình bày theo nếp quen của địa phương.
Đăng cáo phó trên mạng xã hội có được không?
Ngày càng nhiều gia đình làm vậy để báo nhanh cho người ở xa. Nên đăng bản ngắn, chỉ giữ thông tin cần thiết, hạn chế đưa địa chỉ chi tiết lên chế độ công khai, và vẫn gọi điện báo riêng cho người lớn tuổi trong họ.
Sau đám tang, gia đình còn cần làm gì liên quan đến tin báo?
Nhiều nhà đăng thêm lời cảm tạ gửi những người đã đến viếng và giúp đỡ. Những tục sau tang như kiêng cắt tóc, để tang bao lâu thì mỗi vùng mỗi khác; có thể đọc thêm về chuyện kiêng cắt tóc khi trong nhà có tang.
Muốn biết nghĩa tử là nghĩa tận là gì và phân biệt với các khái niệm gần nghĩa, bạn có thể xem thêm bài giải thích.