Nhập quan là nghi thức đặt thi hài người đã mất vào quan tài, thường làm ngay sau khi khâm liệm và trước khi gia đình phát tang, đón khách viếng. Lễ nhập quan diễn ra vào một giờ được chọn trước, có con cháu đứng quanh chứng kiến. Trên cáo phó, giờ nhập quan thường được ghi riêng để con cháu ở xa về kịp.
| Nghĩa | Đặt thi hài người mất vào quan tài theo nghi thức |
| Gốc chữ | Hán Việt: 入 (nhập: vào) + 棺 (quan: cỗ áo quan) |
| Thời điểm | Sau khâm liệm, trước thành phục và lễ viếng |
| Cách gọi khác | Bỏ vào săng (cách nói xưa), cho vào hòm |
| Vùng miền | Có ở mọi miền; giờ giấc, đồ đặt kèm mỗi nơi một khác |

Nhập quan, chữ 入 và chữ 棺
Chữ đầu dễ đoán. Nhập 入 là vào, gặp lại trong nhập học, nhập cảnh, nhập trạch. Chữ sau ít người để ý hơn: quan ở đây là 棺, cỗ áo quan, khác hẳn chữ quan 官 trong quan lại hay quan 觀 trong quan sát. Ghép lại, nhập quan nghĩa đen là “vào áo quan”.
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học xếp nhập quan là động từ, giảng là đặt xác người chết vào quan tài theo nghi thức, kèm hai ví dụ quen tai: giờ nhập quan, làm lễ nhập quan. Hai chữ “theo nghi thức” là chỗ quan trọng. Việc đặt thi hài vào quan tài ở nhà xác bệnh viện chưa chắc đã được gọi là nhập quan; khi nói nhập quan, người ta nghĩ tới một khoảnh khắc có giờ giấc, có hương đèn, có con cháu đứng quanh.
Từ này mang sắc thái trang nghiêm, chỉ dùng trong chuyện tang ma. Một lỗi hay gặp là nhầm với nhập trạch (dọn vào nhà mới) vì cùng mở đầu bằng chữ nhập; một bên là việc vui, một bên là việc hiếu, viết nhầm trên thiệp hay tin nhắn thì rất khó coi.
Từ lúc khâm liệm đến khi đậy nắp quan tài
Trình tự cụ thể khác nhau theo vùng, theo tôn giáo và theo từng nhà. Cái khung chung mà sách phong tục xưa và các mô tả hiện nay cùng nhắc tới như sau:
- Khâm liệm. Thi hài được lau rửa, thay áo rồi bọc vải. Theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, vải liệm xưa tùy gia cảnh: nhà khá giả dùng lụa, còn phần đông dùng vải trắng. Phần này có bài riêng về việc liệm người mất và vải liệm.
- Chọn giờ. Nhiều gia đình nhờ thầy xem giờ nhập quan, có nhà còn xem “tránh tuổi” cho người đứng gần. Giờ này thường được in luôn trên cáo phó cùng giờ di quan, để họ hàng ở xa biết mà về kịp.
- Đặt thi hài vào quan tài. Đến giờ, con cháu và người thân đứng quanh, cùng nâng thi hài đã liệm đặt vào lòng quan tài, chèn cho ngay ngắn. Người nhà được nhìn mặt người mất lần cuối trước khi đậy nắp.
- Đậy nắp, đặt linh cữu. Quan tài được gắn kín, đặt ở gian giữa nhà hoặc tại nhà tang lễ. Sau đó mới lập bàn thờ, con cháu mặc tang phục và bắt đầu đón khách.
Ở thành phố, phần lớn việc này do đơn vị dịch vụ tang lễ đảm nhận, gia đình đứng bên chứng kiến và thắp hương. Nhà theo đạo Phật có thể mời sư thầy tụng kinh trong lúc nhập quan; gia đình Công giáo có nghi thức cầu nguyện riêng của giáo xứ. Đồ đặt theo vào quan tài, nếu có, cũng tùy từng nhà: vài vật dụng quen thuộc, ít tư trang người mất quý lúc sinh thời.
Nhập quan khác liệm, thành phục, di quan ra sao?
Các tên gọi trong tang lễ đứng sát nhau nên rất dễ lẫn. Bảng dưới xếp theo thứ tự thường gặp:
| Nghi thức | Làm gì | Diễn ra lúc nào |
|---|---|---|
| Khâm liệm | Bọc thi hài bằng vải | Sau khi lau rửa, thay áo |
| Nhập quan | Đặt thi hài đã liệm vào quan tài, đậy nắp | Ngay sau khâm liệm, theo giờ đã chọn |
| Thành phục | Con cháu mặc tang phục, chính thức để tang | Sau nhập quan |
| Di quan (động quan) | Đưa linh cữu ra khỏi nhà để đi chôn hoặc hỏa táng | Ngày đưa tang |
| Hạ huyệt | Đặt quan tài xuống mộ | Khi linh cữu tới nơi an táng |
Nhiều người gộp khâm liệm và nhập quan thành một buổi vì hai việc nối liền nhau. Còn ngày đưa tang có thể đọc thêm về nghi thức động quan khi linh cữu rời nhà.
Vì sao người xưa coi giờ nhập quan là hệ trọng?
Với người Việt, lo tang cho cha mẹ là việc hiếu, nên mới có cách gọi đám tang là đám hiếu. Trong chuỗi việc hiếu ấy, nhập quan là lúc con cháu thấy mặt người thân lần cuối. Đậy nắp quan tài rồi, mọi chăm sóc sau đó chỉ còn là hương khói. Vì vậy, nhà nào cũng cố gắng để đủ mặt con cháu đứng quanh vào giờ này, người ở xa phải về kịp trước giờ nhập quan.
Lớp tín ngưỡng phủ lên nghi thức thì đậm hơn ở tang lễ xưa. Sách của Phan Kế Bính tả cảnh người ta xem giờ, xem tuổi kỹ càng trước lúc đặt người mất vào quan tài, dán bùa trong ngoài quan tài, và ghi rằng phần nhiều người thời ấy tin theo thầy phù thủy. Những tục đó nay đã thưa đi nhiều. Phần còn giữ được ở hầu hết các gia đình là ý nghĩa tình cảm: một khoảnh khắc lặng để nói lời tiễn biệt.
Chi tiết đáng nhớ nhất của từ này có lẽ là dòng ghi giờ nhập quan trên cáo phó. Người đọc thấy dòng ấy thì hiểu đó là buổi dành cho người trong nhà, còn khách viếng thường đến sau, khi linh cữu đã đặt xong.
Nhập quan với người lần đầu lo việc tang
Lễ nhập quan là gì?
Là buổi lễ đặt thi hài người mất vào quan tài, có thắp hương khấn vái và con cháu chứng kiến. Lễ thường ngắn, làm vào giờ đã chọn, ngay sau phần khâm liệm.
Nhập quan có phải là khâm liệm không?
Không hẳn. Khâm liệm là bọc thi hài bằng vải; nhập quan là đặt thi hài đã liệm vào quan tài. Hai việc nối tiếp nhau nên hay được làm trong cùng một buổi.
Giờ nhập quan ghi trên cáo phó có ý nghĩa gì?
Đó là giờ gia đình làm lễ đặt người mất vào quan tài. Con cháu, họ hàng gần thường cố về trước giờ này để được nhìn mặt người thân lần cuối.
Khách đến viếng có cần dự lễ nhập quan không?
Thường là không. Lễ nhập quan chủ yếu dành cho người trong nhà; khách viếng đến sau khi gia đình đã thành phục và mở cửa đón người phúng điếu, trừ khi được gia đình mời.