Quan hệ biện chứng là mối quan hệ trong đó hai sự vật, hai mặt hay hai yếu tố vừa ràng buộc, quy định nhau, vừa tác động qua lại và có thể chuyển hóa cho nhau, chứ không phải một bên chỉ đứng yên chịu ảnh hưởng của bên kia. Câu quen thuộc trong giờ triết “vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng” chính là đang nói tới kiểu quan hệ hai chiều này.
| Nghĩa ngắn | Quan hệ hai chiều: ràng buộc, quy định và tác động qua lại lẫn nhau |
| Thuộc | Triết học, cụ thể là phép biện chứng (nguyên lí về mối liên hệ phổ biến) |
| Dấu hiệu | Thường có một mặt giữ vai trò quyết định, mặt kia tác động trở lại |
| Trái với | Cách nhìn siêu hình: tách rời, một chiều, cố định |

Quan hệ biện chứng: hai bên cùng níu nhau
Thử hình dung hai người kéo co nhưng buộc chung một sợi dây vào thắt lưng. Người này bước một bước, người kia buộc phải xoay theo; người kia ghì lại, người này cũng chậm đi. Không ai đứng yên được một mình. Hình ảnh ấy khá gần với điều mà sách triết học gọi là quan hệ biện chứng.
Theo cách trình bày trong các giáo trình triết học dùng ở Việt Nam, khi nói hai thứ “có quan hệ biện chứng” là khẳng định cùng lúc ba ý: chúng phụ thuộc, quy định lẫn nhau (thiếu bên này thì bên kia không còn như cũ); chúng tác động qua lại (ảnh hưởng đi theo hai chiều); và trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa sang nhau. Thiếu một trong các ý đó thì chỉ là liên quan, chưa đủ để gọi là biện chứng.
Chữ “biện chứng” ở đây mang nghĩa triết học, gắn với lối nhìn sự vật trong vận động và liên hệ. Muốn đi từ gốc chữ 辯證 đến các giai đoạn của học thuyết thì nên đọc trước bài nghĩa của từ biện chứng trong triết học.
Thế nào thì nhận ra một quan hệ biện chứng?
Khi gặp một cặp khái niệm trong đề thi hay trong sách, có thể soát bằng mấy câu hỏi nhanh:
- Bỏ một bên đi thì bên kia còn nguyên không? Nếu không, giữa chúng có sự quy định lẫn nhau.
- Ảnh hưởng đi một chiều hay hai chiều? Một mặt quyết định, nhưng mặt kia cũng tác động trở lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm.
- Có lúc nào hai bên đổi chỗ cho nhau không? Ví dụ cái là kết quả ở việc này lại thành nguyên nhân ở việc khác.
- Quan hệ có thay đổi theo thời gian không? Hai mặt có lúc phù hợp, có lúc vênh nhau, và chính độ vênh ấy đẩy sự vật phát triển.
Trong giáo trình, kiểu quan hệ này được bàn nhiều nhất qua các cặp quen thuộc: vật chất và ý thức, nội dung và hình thức, nguyên nhân và kết quả, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng. Cặp đầu tiên gắn với câu hỏi mở đầu mọi giáo trình triết học. Theo cách diễn đạt phổ biến, vật chất quyết định ý thức, còn ý thức, qua việc con người làm, lại góp tay cải biến thế giới vật chất.
Vì sao các mặt lại ràng buộc nhau như vậy?
Phép biện chứng duy vật giải thích rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, nên không sự vật nào tồn tại tách biệt hoàn toàn. Mỗi sự vật vừa là một bộ phận của cái lớn hơn, vừa chứa trong nó những mặt khác nhau. Các mặt ấy cần nhau để tồn tại, đồng thời lại khác nhau, có khi đối lập nhau. Từ chỗ khác nhau mà sinh ra tác động qua lại; nhiều tài liệu gọi đây là nguồn gốc của vận động và phát triển, gắn với khái niệm mâu thuẫn trong triết học.
Ví dụ đời thường dễ thấy nhất là cung và cầu trên thị trường. Người mua cần nhiều thì người bán sản xuất thêm; hàng nhiều quá thì giá giảm, lại kéo theo cách mua sắm thay đổi. Hai bên vừa dựa vào nhau vừa đẩy nhau đi.
Hiểu được điều này dẫn tới một bài học về cách nghĩ: xem xét vấn đề thì phải đặt nó trong các mối quan hệ của nó, thấy cả vai trò quyết định của một mặt lẫn sức tác động ngược lại của mặt kia. Tuyệt đối hóa một bên, hoặc coi hai bên ngang bằng nhau hoàn toàn, đều là hiểu lệch.
Biện chứng khác nhân quả một chiều ở đâu?
| Tiêu chí | Quan hệ biện chứng | Quan hệ một chiều |
|---|---|---|
| Hướng tác động | Hai chiều, có tác động trở lại | Chỉ từ A sang B |
| Vị trí hai bên | Một mặt quyết định, mặt kia không thụ động | Một bên chủ động, một bên chịu |
| Theo thời gian | Thay đổi, có thể chuyển hóa cho nhau | Coi như cố định |
| Ví dụ | Thói quen đọc sách và vốn từ: đọc nhiều thì giàu chữ, giàu chữ thì đọc nhanh, thích đọc hơn | Trời mưa làm sân ướt; sân ướt không làm trời mưa thêm |
Không phải quan hệ nào cũng đáng gọi là biện chứng. Gắn nhãn ấy cho mọi cặp từ trong bài làm là dễ bị trừ điểm vì dùng thuật ngữ cho sang.
Nội dung và hình thức trong một bài thơ
Học sinh gặp quan hệ biện chứng nhiều nhất ở môn Văn, dù sách không gọi tên. Đó là cặp nội dung của tác phẩm văn học và hình thức nghệ thuật. Nội dung giữ vai trò quyết định: muốn nói nỗi nhớ nhà da diết thì người viết tìm thể thơ, nhịp điệu, hình ảnh hợp với nỗi nhớ ấy. Nhưng hình thức không chỉ là cái vỏ: cùng một ý mà viết thành lục bát ngân nga hay thành câu thơ tự do gãy nhịp thì người đọc nhận về hai cảm xúc khác nhau.
Vì thế các đề nghị luận văn học hay yêu cầu “phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật” rồi nhắc phải chỉ ra sự gắn bó của hai phương diện. Một bài phân tích chỉ kể nội dung, hoặc chỉ liệt kê biện pháp tu từ mà không nói chúng phục vụ ý gì, chính là đang cắt đứt sợi dây hai chiều đó.
Quan hệ biện chứng qua từng cặp phạm trù
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức là gì?
Vật chất là cái có trước, sinh ra và quy định ý thức. Đổi lại, ý thức cũng chủ động: khi biến thành kế hoạch, hành động cụ thể của con người, nó có thể làm thay đổi hoàn cảnh vật chất, theo hướng tốt lên hoặc xấu đi.
Quan hệ biện chứng và mối liên hệ phổ biến có phải là một?
Gần nhau nhưng không hoàn toàn trùng. Mối liên hệ phổ biến là nguyên lí nói rằng mọi sự vật đều liên hệ với nhau; quan hệ biện chứng là cách gọi một mối liên hệ cụ thể có đủ tính quy định lẫn nhau, tác động qua lại và chuyển hóa.
Ví dụ về quan hệ biện chứng trong đời sống?
Thầy dạy tốt giúp trò tiến bộ, trò hỏi hay lại buộc thầy chuẩn bị kĩ hơn. Sức khỏe ảnh hưởng tới việc học, áp lực học tập kéo dài lại ảnh hưởng tới sức khỏe. Cả hai cặp đều có tác động hai chiều.
Viết “có mối quan hệ biện chứng” trong bài văn có ổn không?
Ổn nếu chứng minh được tác động hai chiều. Chỉ nêu cụm từ rồi bỏ đó thì nên thay bằng cách nói giản dị hơn, như “gắn bó, tác động qua lại với nhau”.