Âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh được tổ chức theo cao độ, trường độ, nhịp điệu và âm sắc để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của con người. Một câu hát ru, một bản giao hưởng hay một đoạn nhạc phim đều là âm nhạc. Nói gần gũi hơn, nhạc là thứ âm thanh được sắp xếp có chủ ý để người nghe cảm thấy điều gì đó.
| Nghĩa | Nghệ thuật dùng tổ hợp âm thanh để biểu đạt tư tưởng, tình cảm |
| Gốc từ | Hán Việt 音樂: âm (tiếng) + nhạc (khúc nhạc; cũng đọc là lạc, nghĩa vui) |
| Loại từ | Danh từ |
| Yếu tố chính | Cao độ, trường độ, cường độ, âm sắc; giai điệu, nhịp điệu, hòa âm |
| Tiếng Anh | Music, gốc Hy Lạp mousikē (nghệ thuật của các nàng Muse) |

Âm nhạc là gì?
Tiếng mưa trên mái tôn không phải âm nhạc, dù nghe có lúc rất hay. Nhưng khi một người gõ lên mặt bàn theo một nhịp đều, nhanh dần rồi dừng đúng lúc, thứ âm thanh ấy bắt đầu thành nhạc. Chỗ khác nhau nằm ở chữ tổ chức: âm thanh được chọn, được xếp đặt, có ý đồ.
Mục từ âm nhạc trong từ điển tiếng Việt ghi đây là nghệ thuật dùng những hình thức tổ hợp âm thanh nhất định để diễn đạt tư tưởng và tình cảm. Cái “tổ hợp” đó được làm từ mấy chất liệu cơ bản:
- Cao độ: âm cao hay thấp, nối nhau thành giai điệu, phần ta thường ngân nga theo.
- Trường độ: âm ngân dài hay ngắn, tạo nên nhịp điệu, phần khiến ta gõ chân theo.
- Cường độ: âm to hay nhỏ, lúc dồn dập, lúc lắng xuống.
- Âm sắc: “màu” riêng của từng giọng hát, từng nhạc cụ; cùng một nốt mà tiếng sáo khác tiếng đàn bầu.
Khi nhiều âm vang lên cùng lúc và hòa với nhau, ta có hòa âm. Âm nhạc chia thành hai nhánh lớn: thanh nhạc (dùng giọng hát) và khí nhạc (dùng nhạc cụ). Cách hiểu thế nào là nhạc cũng đổi theo từng nền văn hóa, nên tiếng cồng chiêng Tây Nguyên và một bản sonata châu Âu đều là âm nhạc, chỉ khác hệ quy tắc.
Âm nhạc đứng trong nhóm nghệ thuật cùng văn học, hội họa, sân khấu, điện ảnh, xem bài các loại hình nghệ thuật và đặc trưng của chúng.
音樂: tiếng hay và niềm vui
Chữ âm (音) là tiếng, như trong âm thanh, âm điệu, phát âm. Chữ còn lại, 樂, thú vị hơn nhiều. Nó có ba cách đọc. Đọc nhạc thì là âm nhạc; Thiều Chửu giảng rằng ngũ âm bát thanh đều gọi là âm nhạc. Đọc lạc thì là vui, như an lạc, khoái lạc, lạc quan. Đọc nhạo thì là yêu thích. Người xưa viết “nhạc” và “vui” bằng cùng một chữ, như thể đã ngầm hiểu nhạc sinh ra để làm lòng người vui.
Họ chữ nhạc trong tiếng Việt khá đông: nhạc sĩ, nhạc cụ, nhạc công, ca nhạc, nhạc kịch, và nhã nhạc, tức nhạc tao nhã dùng trong cung đình. Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh năm 2003, là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được tổ chức này công nhận; năm 2009 có thêm ca trù và dân ca quan họ. Học sinh tiểu học được làm quen với quan họ qua bài đọc Tập hát quan họ lớp 5.
Ở phương Tây, chữ music đi qua tiếng Latin musica từ tiếng Hy Lạp mousikē, nghĩa là nghệ thuật của các nàng Muse, những nữ thần coi sóc thi ca và nghệ thuật. Hai nền văn hóa đặt tên khác nhau, một bên gắn nhạc với niềm vui, một bên gắn với thần nghệ thuật.
Âm nhạc, ca nhạc, tiếng nhạc và tiếng ồn
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Âm nhạc | Cả loại hình nghệ thuật; cũng là tên môn học | Giờ âm nhạc, năng khiếu âm nhạc |
| Nhạc | Dạng rút gọn, thường chỉ một bài, một dòng cụ thể | Nghe nhạc, nhạc trẻ, nhạc phim |
| Ca nhạc | Âm nhạc có lời hát, nhất là hình thức biểu diễn | Chương trình ca nhạc cuối tuần |
| Âm thanh | Mọi thứ tai nghe được, có tổ chức hay không | Âm thanh xe cộ, âm thanh loa |
| Tiếng ồn | Âm thanh hỗn tạp, gây khó chịu | Tiếng ồn công trường |
Âm nhạc không có từ trái nghĩa đúng nghĩa; gần nhất về ý là im lặng hay tiếng ồn. Viết bài văn, nên dùng “âm nhạc” khi bàn chung về nghệ thuật (“âm nhạc nuôi dưỡng tâm hồn”), dùng “nhạc” khi nói đến thứ cụ thể (“bản nhạc ấy”, “nhạc dân ca”).
Tiếng đàn trong trang văn
Văn chương Việt có nhiều trang viết về âm nhạc, nổi tiếng nhất có lẽ là cảnh Thúy Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe. Nguyễn Du không tả cây đàn mà tả cái tai người nghe, bằng một chuỗi so sánh:
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng đàn có lúc trong vút, có lúc trầm đục, đủ cả cao độ lẫn âm sắc, chỉ trong hai dòng lục bát.
Lên lớp 9, học sinh gặp người kỹ nữ đất Trường An gảy tì bà bên bến Tầm Dương trong bài thơ Bạch Cư Dị viết về tiếng tì bà. Đến lớp 12 là tiếng đàn của một nghệ sĩ Tây Ban Nha trong bài thơ Thanh Thảo viết về Lor-ca, nơi những dòng thơ mô phỏng cả tiếng ghi ta “li-la li-la”.
Đề nghị luận “vai trò của âm nhạc” vì thế dễ có dẫn chứng: một khúc hát ru đưa đứa trẻ vào giấc ngủ, một bài hát tập thể nối các bạn trong lớp lại gần nhau.
Âm nhạc trong giờ học nhạc ở trường
Âm nhạc là gì theo cách hiểu đơn giản nhất?
Là âm thanh được sắp xếp có chủ ý, theo giai điệu và nhịp điệu, để người nghe cảm nhận được một cảm xúc hay một ý nghĩ. Tiếng hát ru của mẹ cũng là âm nhạc.
Âm nhạc gồm những yếu tố nào?
Bốn đặc tính cơ bản của âm là cao độ, trường độ, cường độ và âm sắc. Từ đó hình thành giai điệu, nhịp điệu và hòa âm, ba thứ làm nên một bản nhạc.
Âm nhạc tiếng Anh là gì?
Là music. Nhạc sĩ là musician hoặc composer (người sáng tác), nhạc cụ là musical instrument.
Âm nhạc có những loại nào?
Chia theo cách thể hiện có thanh nhạc và khí nhạc. Chia theo nguồn gốc có nhạc dân gian, nhạc cổ truyền, nhạc cổ điển, nhạc đại chúng; mỗi nhóm lại có nhiều dòng nhỏ như dòng nhạc lo-fi để học bài.