Ái phi là cách vua chúa thời phong kiến gọi người phi mà mình yêu quý, nghĩa đen là “người phi được yêu”. Đây là từ cũ, dùng để xưng gọi hơn là một tước hiệu, nên người đọc truyện, xem phim cổ trang mới hay hỏi ái phi nghĩa là gì và ái phi đứng ở bậc nào trong hậu cung.
| Nghĩa ngắn | Người phi được vua yêu quý; lời vua gọi người ấy |
| Gốc từ | Hán Việt 愛妃: ái (yêu) + phi (vợ vua, bậc dưới hoàng hậu) |
| Loại từ | Danh từ, thường dùng làm lời gọi |
| Sắc thái | Từ cũ, giọng cung đình; nay gặp nhiều trong phim, truyện và lời đùa |

Ái phi, hai chữ 愛 và 妃
Chữ ái (愛) là yêu, thương, quý. Họ hàng của nó rất quen: ái quốc (yêu nước), ái mộ, bác ái, luyến ái. Đặt trước một danh từ chỉ người, chữ ái biến danh từ ấy thành một lời gọi trìu mến.
Chữ phi (妃) khó hơn một chút. Thiều Chửu giảng: kém bậc hậu là phi, vợ lẽ của vua gọi là phi tần; vợ cả của thái tử và của các vua chư hầu cũng gọi là phi. Vì thế mới có vương phi, thái tử phi, quý phi. Các từ điển chữ Hán còn ghi chữ này từng dùng để tôn xưng nữ thần, như Thiên phi.
Ghép lại, ái phi giữ nguyên trật tự của tiếng Hán: chữ chỉ tình cảm đứng trước, chữ chỉ người đứng sau, giống ái nữ (con gái yêu), ái thê (vợ yêu). Muốn biết rõ cả hệ thống tước bậc trong cung, có thể đọc bài phi tần và thứ bậc trong hậu cung.
Vua gọi “ái phi” vào lúc nào?
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi ái phi là từ cũ, chỉ lời vua chúa dùng để gọi người cung phi mà mình yêu quý. Wiktionary tiếng Việt cũng giảng là vợ yêu quý của vua chúa và chú thêm: thường dùng để xưng gọi. Nghĩa là ái phi chủ yếu xuất hiện trong lời nói trực tiếp, khi vua cất tiếng với người phi ấy.
- “Ái phi đứng dậy đi, trẫm không trách nàng.” Lời gọi đi cặp với chữ trẫm, tiếng vua tự xưng.
- Đêm ấy nhà vua ngự ở cung của ái phi. Lời người kể chuyện, lấy chính cách vua gọi để chỉ người phi được yêu.
- Anh chàng nhắn tin: “Ái phi đã ăn tối chưa?” Cách nói đùa của các cặp đôi trẻ, mượn giọng phim cổ trang.
Cần hiểu ái phi là cách gọi theo tình cảm, không phải một nấc trong bảng tước. Một người có thể mang tước tần, tiệp dư hay quý phi mà vẫn được vua gọi là ái phi. Người phi được yêu chiều nhất thì sử sách và truyện hay gọi là sủng phi. Ví dụ quen thuộc nhất là Dương Quý phi, người được Đường Huyền Tông sủng ái; chuyện ấy dẫn tới bài thơ Trường hận ca và được kể lại ở bài về chữ sủng ái trong thơ Bạch Cư Dị.
Ái phi, sủng phi, quý phi, ái khanh
| Từ | Nghĩa | Dùng thế nào |
|---|---|---|
| Ái phi | Người phi được yêu quý | Vua gọi trực tiếp; người kể chuyện có khi mượn lại |
| Sủng phi | Người phi được vua sủng ái hơn cả | Lời kể, lời bình về người ấy; không dùng để gọi |
| Quý phi | Một tước hiệu cụ thể, bậc cao trong hàng phi | Danh hiệu chính thức, ghi trong sử |
| Hoàng hậu | Vợ chính của vua | Đứng trên mọi bậc phi |
| Ái khanh | Lời vua gọi âu yếm người đàn bà mình yêu hoặc bề tôi thân cận | Rộng hơn ái phi, có thể dành cho quan lại |
Hai cặp hay bị lẫn là ái phi với quý phi, và ái phi với ái khanh. Quý phi là tước, có trong chiếu phong; chi tiết thứ bậc ấy được giải thích ở bài quý phi đứng ở nấc nào. Ái khanh thì rộng hơn: từ điển ghi vua có thể gọi cả một vị quan thân tín là ái khanh, còn ái phi chỉ dành cho người trong hậu cung.
Trái với ái phi, người phi mất lòng vua được gọi là phi bị thất sủng. Cùng một người, hôm trước là ái phi, hôm sau có thể bị đưa ra lãnh cung; chữ “ái” vì thế chỉ bền khi lòng vua còn bền.
Gọi ái phi trên phim và ngoài đời
Ái phi nghĩa là gì trong phim cổ trang?
Là tiếng vua gọi người phi mình thương, thường đi với “trẫm” và “nàng”. Thấy vua gọi ai là ái phi, khán giả hiểu ngay người ấy đang được sủng ái, dù tước thật của nàng có thể chỉ là tần.
Ái phi và hoàng hậu, ai cao hơn?
Hoàng hậu cao hơn, vì là vợ chính của vua và đứng đầu hậu cung. Ái phi chỉ nói đến tình cảm, không nâng bậc của người phi lên trên hoàng hậu.
Gọi người yêu là ái phi có được không?
Được, nếu là chuyện đùa vui giữa hai người. Cặp đôi hay ghép “ái phi” với “trẫm”, “hoàng thượng” cho vui. Trong văn bản trang trọng hay khi nói với người lớn tuổi thì không nên dùng.
Ái phi tiếng Trung đọc thế nào?
Chữ 愛妃 (giản thể 爱妃) đọc là ài fēi. Tiếng Việt đọc theo âm Hán Việt nên thành “ái phi”.