Văn học với đời sống

30/5
10:29 AM 2017

THẦN QUYỀN- TRUYỆN NGẮN CỦA DƯƠNG ĐỨC KHÁNH

Gần nửa làng tôi vô lập nghiệp tận vùng núi Tây Nguyên. Mỗi lần có dịp về trên ấy là gặp lại đủ mặt bà con làng nước. Cứ rưng rưng như đựợc về quê. Lần đầu tôi về đúng dịp việc làng sau Tết.

Cứ đúng ngày mùng bảy tháng giêng, ngày làng tế đầu năm ở quê thì ở đây cũng tổ chức lễ nghi bái vọng. Cũng hương trầm nghi ngút, trống đánh chiêng khua, đầy đủ cả. Nghe nói năm tới bà con mình sẽ xây dựng đình làng theo nguyên mẫu đình gốc ngoài quê mới thỏa lòng...

 

Trong hàng chú bác ở làng mấy chục năm không gặp, người đầu tiên tôi nhận ra là chú Đún! Chú là Dương Đình Đún, tôi kêu bằng chú trong họ. Hôm nay chú vận áo the khăn xếp ngồi bàn hương cả quý tế. Tôi khoanh tay chào chú, nhưng phải nói tên cha tên ông nội tôi chú mới biết con cháu nhà ai. Chú xoa đầu vỗ vai tôi: “Ly hương chớ đừng ly tổ nghe cháu!”

Nghe câu ấy tôi bỗng nhớ một thời mấy phen làng nước loạn ly! Nhớ hồi năm sáu mấy bảy mươi, cả làng phải bỏ nhà cửa ruộng nương, dồn vô một khúm ấp chiến lược giáp làng Tiền Lộc. Tản cư tản cối, giặc giã sống rày chết mai, vậy mà nhớ nhiều chuyện vui đáo để. Ngày đó ở làng chú Đún là “chủ soái”, trưởng môn võ phái Thần Quyền nức tiếng làng trên xóm dưới. Lớp thanh niên trai tráng trong làng hầu hết là môn đệ của chú. Anh nào muốn thọ giáo chỉ cần đem tới nải chuối, thẻ hương cúng tổ là nhập môn, chẳng tốn kém chi cả. Cái môn võ cũng lạ, từ mấy anh hồi giờ giữ trâu, tát đìa tay ngang như cua, cho đến mấy anh đang học đệ nhị đệ nhứt sắp vô tú tài, chú truyền cho mấy câu thần chú tiếng Miên tiếng Lào, đốt lá bùa bằng giấy quyến vẽ chữ rồng rắn bằng mực đỏ uống vô, ngồi quỳ chắp tay trước trán đọc mấy điều tuyên thệ. Chú cầm ba cây hương yểm yểm ngoáy ngoáy chữ bùa, hô câu thần chú rồi thổi cái phù. Cứ rứa là phóng ra sân chắp tay bái tổ rồi nhắm mắt múa quyền tung cước ào ào như trong xi-nê. Nghe nói mai mốt còn biết phi thân, nhún cái là lên ngồi nóc nhà. Khiếp!

Người khỏe mạnh lành lặn đi học võ đã đành, anh Ích bại một cẳng, đi cà quệt cũng thọ giáo. Mà thuộc loại môn sinh xuất sắc mới tài. Nhìn lại nghĩ cũng lạ, làng tôi người lành lặn có khi cả đời chỉ theo đuôi con trâu cỗ bừa, nhưng người có tật lại nghề nghiệp giỏi giang hẳn hoi. Nghề cũng cố tình chọn lựa cho hợp với cái tật. Như ông Bùi Còm thợ may, nghề này còng lưng suốt ngày nên gắn với ông gù cũng phải. Bác Bốn Cụt thợ gò thiếc gò thùng khéo tay có tiếng, bác cụt một chân ngang đầu gối, suốt ngày ngồi sạp tre đập đập gò gò, chân cẳng có cần chi! Chú Lặn có tật chân cao chân thấp làm thợ cắt tóc, bởi nghề này có ai đứng thẳng!... Anh Ích trước khi vô học võ mạ anh cũng gởi qua phố học được cái nghề rất chi phù hợp với cái cẳng bại liệt: Nghề chụp ảnh. Nhìn bộ dáng anh ôm máy ảnh nghiêng lệch người một bên ngắm nghía, ai ngó cũng khoái, cũng phục lăn. Nhứt là bọn trẻ con chúng tôi. Tết đầu tiên anh về làng mặc áo rằn, quần bò màu nước biển, khoác cái áo gi lê tùm lum túi, mang máy hình toòng teng ra dáng nghệ sĩ nhiếp ảnh. Anh đứng đầu đường bến nhắm chụp cảnh sông làng, chụp mấy O gánh nước, giặt áo dưới bến. Bọn tôi cả bầy trai gái tắm, từ nhánh cây sung nhảy đùng đùng xuống bến, hô chụp đi chụp đi eng! Anh nghiêng người giương máy, cái chân bại cà phết cà chấm rất điệu bộ, chụp cắc cắc. Rồi anh còn biểu diễn đặt máy trên bục trụ bến, cài cho máy chạy tự động chụp anh nữa chớ! Chiều cả bầy chạy theo anh kêu hình mô hình mô?! Anh nói chưa rửa chưa rửa! Con Lặn với con Én nói nước đầy dưới bến răng eng không xuống mà rửa!... Nhưng khi được coi anh thảo bộ đi các đường quyền trên sân võ mới thấy đúng là cái tật đi với tài. Anh cung tay bái tổ xong, cái chân bại thả bộ xàng quét, nhún nhảy như có gắn lò xo. Anh búng chân một phát lộn mấy vòng giáp sân rồi phóng qua hàng rào chè tàu cái vèo nhẹ nhàng như  một con mèo. Cái chân lành của anh cứ chắc nụi như chân trâu đực, nện bình bịch như chày vồ đập đất giã xuống sân. Tay anh vỗ bôm bốp, miệng hô các thế “Linh miêu đoạt thạch! Tam sơn trấn ải! Mãnh hổ tọa sơn! Hứ!...”  

Con nít bọn tôi mê tít thò lò. Tối tối, tôi với thằng Lời núp sau đụn rơm nhà chú Đún rình học lóm rồi bắt chước lộn nhào, múa máy đi quyền ra thế. Thằng Lời nói ước chi chú thổi cho mình tí bùa thử ra răng hè! Nhưng lơn tơn tới gần là bị chú nạt, con nít, đi chỗ khác chơi. Tôi thì đêm ngủ cứ mở, cứ múa lung tung, mạ tôi lôi dậy đập cho mấy tát mới tỉnh hồn. Ban ngày hai thằng cứ tò tò theo mấy anh mấy chú mà hóng chuyện thần quyền. Anh Khôi đang học Đệ nhị, đệ tử ruột của thầy Đún ngồi xếp bàn giữa nền miếu nghiêm trang kể với mấy anh môn đệ khác, giọng anh dõng dạc, bài bản, nghe cứ như anh đọc truyện trong sách trong sử: Năm một ngàn tám trăm mấy đó, hồi quân Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Nhiều nghĩa sĩ tụ quân về vùng núi Năm Non. Quân Pháp đông mà súng đạn tối tân. Nghĩa quân chẳng có binh khí nào ngoài giáo mác, tầm vông. Những người đứng đầu nghĩa binh phải sử dụng đến môn “võ thần” được coi là vũ khí “quyền thuật tâm linh” để nâng tinh thần chống giặc cho binh sĩ. Nên võ phái Thần Quyền ra đời từ đó... Những năm trước đó, bà con làm rẫy dưới chân núi thường thấy một đạo sĩ áo nâu râu tóc bạc phơ, đôi mắt sắng quắc dưới hàng lông mày cũng bạc trắng. Ông sống ẩn dật tu luyện trong rừng sâu trên đỉnh núi. Không ai biết gốc gác, tên tuổi thật của người đạo sĩ. Chỉ thỉnh thoảng người ta thấy ông cưỡi trên lưng ngựa lên đỉnh xuống thung. Một lần ông dong ngựa xuống núi đổi rau với khoai sắn lấy gạo. Gặp cảnh một toán cướp dùng súng uy hiếp cướp của dân lành. Ông xuống ngựa ra tay can thiệp, bị toán cướp xông vào vây đánh. Chỉ bằng một ngón tay điểm huyệt, một tên cướp ngã lăn bất tỉnh, mắt trợn dọc! Tên cướp khác toan nổ súng. Ông rùng mình một cái “bay” đến tước súng rồi vung chân múa tay đi các đường quyền đánh gục hết những tên còn lại. Xong, ông ung dung lên ngựa trở về núi. Biết chuyện, nhiều thanh niên say mê thán phục, rủ nhau lên núi tìm ông thọ giáo. Không ai tìm được nơi trú ẩn của ông. Một lần khác ông cưỡi ngựa xuống núi thì bắt gặp một đám lính Pháp đang dùng súng uy hiếp người dân. Ông lập tức nhảy xuống. Tên lính lê dương nổ súng, Ông há miệng đớp lấy viên đạn phun cái phèo ra trước mặt bọn lính khiến chúng thất kinh, vứt súng chạy tán loạn... Lần ấy, lính Pháp kéo đến vùng núi nơi ông tu tập để truy lùng ông lão võ nghệ phi thường, nhưng đều thất bại. Sau đó có người thanh niên quyết tâm tìm ông. Người này bò lên đỉnh núi tìm nơi ngồi thiền. Nguyện khi nào gặp được sư phụ mới xuống núi. Sau ba ngày chịu nắng mưa, đói khát giữa rừng, người thanh niên ngất xỉu. Khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trong một hang động. Kể từ ngày đó, anh ta trở thành đệ tử chân truyền của Đại sư, một môn đồ ưu tú của phái Thần Quyền... Và tiếp tục truyền thụ lại lớp môn đệ sau này, trong đó có thầy Đún của mình! Anh kết thúc chuyện...

 Còn anh Cu Chẻo dân giữ trâu từ nhỏ, mới nhập môn mấy ngày. Anh không biết chữ, không “nói như sách” giống anh Khôi nhưng anh kể vui đáo để. Anh nói chỉ cần luyện đúng một tháng là dòm ban đêm như ban ngày. Hai tháng là có “mắt thần”, dòm xuyên vách tường. Ba tháng là ăn được mẻ chai, dao phay chém không đứt. Đúng sáu tháng là đạn bắn không lủng! Anh nói, tau chỉ cần học sáu tháng là anh Bẻo tau đưa vô du kích, khi đó súng đạn vô mình tau như con nít quăng cục sạn, hè hè! Rồi anh nghiêm mặt đưa ngón tay nói nhỏ ra vẻ bí mật, thầy nói chỉ có thằng mô biết mẹo khử bùa, bôi cứt gà sáp vô đầu viên đạn mà bắn là ngủm củ tỏi!... Cho nên ai vô môn phái là tuyệt đối cấm không được ăn thịt trâu, thịt chó, không uống rượu, không lòn ngang dây phơi quần áo, không gần chỗ uế tạp, phải giữ thân mình tay chân tinh tắn. Anh kể bữa trước, trời chạng vạng thằng Thêm thấy O Chanh con mụ Lội đang gánh hai bó tót cao lút người từ ngoài đồng về. Hắn nhào vô bọp bụ O rồi bỏ chạy. Bị thần phạt tại chỗ, phải ăn cả bụm cứt trâu mới ỉa như ăn chè. Vô tới nhà thần bắt lên quyền, đập đầu vô cột nhà bốp bốp rồi đau một trận nằm liệt giường. Khiếp!

Mấy bữa sau, tôi với thằng Lời xách giỏ đi câu, ra tới đầu xóm gặp anh Cu Chẻo đang ngồi một mình trên bục trụ xi măng đầu bến, mặt nghiêm như tượng. Hai thằng xáp tới hỏi, anh ngồi đây mần chi sớm rứa, không đi thả trâu à. Anh xua tay xì xì nói đừng hỏi, tau đang luyện thử “mắt thần”. Hai thằng sà xuống im re nhìn chăm chăm mắt anh! Cứ một lúc thấy anh bước xuống thò tay vô kè đá móc lên một con tôm càng xanh lè. Thò vô cừ tre móc ra một con. Cứ như anh đang làm trò ảo thuật! Nhìn vô giỏ thấy rột rẹt cả chục con to tướng. Anh nói mắt tau dòm thâu cả mấy lớp đá lận! Cứ anh lôi lên một con là hai thằng vỗ tay, há hốc... Lệ thường, bến sông buổi sớm mai không ai được tắm rửa giặt giũ làm vẩn đục, ô uế... Nước sông tinh mơ chỉ dành cho người gánh nước. Mấy O con gái áo tím áo hường oằn vai cười nói. Những đôi chân tròn trịa nõn nà lao xao bến sông trong ngấn trắng ngần! Rứa mà anh Cu Chẻo có “mắt thần”(!)... Bỗng thằng Lời ngớ người hỏi nhỏ, anh... không sợ... thần phạt à!...   

Lúc sau anh kéo hai thằng lên ngồi trên bến kề tai nói nhỏ, bữa nay tau đãi tụi bay ăn bữa cốm coi như ăn mừng tau luyện thành công mắt thần! Thường buổi sáng mấy O bán rượu bán cốm dưới làng Cần gánh ngang. Lúc thấp thoáng mấy vạt áo tím áo hồng từ đàng xa, anh lận lận lưng quần móc ra mấy đồng bạc cắc, tay anh ra bộ, miệng anh hát câu vè: “Ơi O gánh cốm hai lu/dừng chân cho tui gởi con cu về cùng/cu tui cu ấp cu bồng/đừng nhốt vô lồng mà ốm cu tui”... Một O áo tím  dừng lại đặt gánh xuống, giở nón vừa quạt vừa cười duyên đưa ngón tay vén vén mấy sợi tóc mai dính mồ hôi trên gương mặt đẹp như tiên rồi cúi xuống giở lu, mùi cốm nếp cốm bắp thơm lừng. Con gái làng Cần xưa nay đẹp nổi tiếng, O nào O nấy cao dỏng, áo lụa quần lãnh láng mướt, đẹp lạ đẹp lùng. Gặp thời này cho mấy O đi thi hoa hậu chắc chắn là vô chung kết hết. Mắt thường nhìn cũng đủ chết ngây chết ngất. Rứa mà anh Chẻo có mắt thần!... Anh mua cho hai thằng hai vắt cốm rồi kéo tay chỉ mặt dặn nhỏ, cấm tụi bay không được nói với ai tau có mắt thần nghe chưa!... Để mơi mốt tau thổi cho tí bùa “mắt thần” mà chơi trốn tìm, chơi bắn nhau núp mô cũng thấy rõ ràng hết!... Rồi anh đứng dậy phủi mông phạch phạch nói thôi chừ tau về đi bới khoai cái đã.

Đêm nào tập luyện xong mấy anh cũng kéo nhau ra miếu xóm tụ tập hóng mát, nói trạng trên trời dưới đất tới khuya. Lúc bụng đói mấy anh sai hai thằng tôi chạy đi đốt lửa nướng khoai nướng sắn như hai thằng hầu. Có khuya không có chi ăn anh Chẻo kêu tôi tới bưng nải chuối đang cúng trên bàn thờ miếu xuống cho anh. Tôi lắc đầu không dám, nói em sợ ông thần miếu vặn cổ lắm! Anh nói thần miếu là thần xóm, đồ con rệp, mần răng to bằng thần Ấn Độ của tau. Ăn hết nải chuối anh nổi hứng nói tau ăn cây đèn cho thằng thần xóm ni hết thấy đường về ăn chuối luôn. Rứa là anh bưng cây đèn đang thắp trên bàn thờ xuống, giở cái bóng thổi thổi cho nguội, lấy vạt áo lau lau cho sạch khói rồi cắn cái rốp, nhai rạo rạo ngon lành. Hai thằng tôi ngồi tròn mắt, xanh mặt. Anh gục gật nói ngon, ngon hơn bánh tráng mới nướng! Bay muốn ăn thử tau thổi cho tí bùa vô mà ăn với tau cho vui. Đang khiếp vía nhưng nghe thổi bùa là khoái chí trong bụng, hai thằng gật liền. Anh kêu nhắm mắt chắp tay lại, anh niệm thần chú lầm thầm, thổi cái phù nói rồi, thấy trong người có tê tê phừng phừng như uống rượu  không, tôi gật gật. Anh đưa hai thằng hai miếng mẻ bỏng nhọn hoắt, to hơn móng tay cái nói nhai đi, cứ tự nhiên như nhai bánh tráng rứa, đừng sợ chi hết, lỡ chảy máu tau thổi cái là hết liền!... Mặc dầu thấy trong người vẫn như thường, không có chuyện tê tê phừng phừng chi cả, hai thằng tôi đã liều mạng nhai miếng mẻ bỏng tới nhuyễn như cám nhưng phun ra không dám nuốt. Tôi nghĩ có nuốt luôn cũng chẳng can chi (sau này tôi có nhai thử thêm mấy lần nữa cũng rứa). Liền lúc đó, bỗng có tiếng súng lớn súng nhỏ nổ rầm trời. Anh Chẻo nói tụi bay chạy về núp đi, còn tau súng đạn ăn thua chi. Hai thằng cắm cổ chạy về nhà xuống hầm. Sáng ngày cả làng lục tục gồng gánh lên đường tản cư.

Hơn tháng sau, hơi lặng tiếng súng, ai nấy lần lần trở về. Vừa tới nhà chân ướt chân ráo thằng Lời nói, mềnh đi tìm anh Chẻo chơi hè, tau nhớ anh Chẻo quá trời! Chạy qua thấy nhà chú Đún vắng teo, hỏi thăm mấy người lớn mới té ra, mấy anh đi hết cả rồi, phần bị bắt lính, phần nhiều theo du kích. Anh Chẻo theo bên du kích... Chỉ có anh Ích qua phố làm thợ chụp ảnh.

Rồi cứ mỗi lần nghe tiếng súng nổ dồn xa xa là thằng Lời lại nắm tay tôi giọng buồn thiu, nói tau thương anh Chẻo ghê, tội nghiệp không biết anh có chuyện chi không? Rồi hắn đập vai tôi mắt sáng lên, nói a mà mấy anh có bùa hộ mạng, sắp “xuất sư” hết, lo chi hè! “Mình đồng da sắt”, đạn bắn không lủng… Rồi hắn thở dài, nói sợ là mấy anh theo bên lính biết mẹo trị bùa, chơi ác bắn đạn có bôi cứt gà sáp là ngủm!...

Chú Đún thì chạy qua phố, thời gian sau chú đâm đơn vô cảnh sát công lộ. Có lần tôi được mạ cho đi phố, ngồi trên xe lam lúc chạy ngang ngã tư thấy chú đứng nghiêm trang như tượng trên cái bục sơn trắng có vẽ mũi tên màu đỏ vòng quanh. Chú đội mũ cảnh sát có gắn bông lúa bằng bạc, ngực đeo bảng tên mi ca. Bên hông xề xệ khẩu súng lục. Miệng ngậm tu huýt thổi roét roét. Hai tay chú đeo găng trắng giơ qua giơ lại thẳng tưng. Bắt xe này ngừng, cho xe khác chạy! Oai thiệt!...

Có lần tới dịp giỗ họ bên nội, lúc xôi thịt dọn lên hai hàng ê hề thấy chú bận nguyên bộ đồ cảnh sát, chạy chiếc gô-ben tành tạch từ bên phố về. Mũ bê rê đội lệch, mang khẩu ru-lô chéo bên ngực, giày cộp láng bóng. Mới mang lon trung sĩ mà nhìn chú oai như ông tướng! Cũng nhờ chú có bộ râu, bà con nói râu chú giống râu tướng Nguyễn Cao, mơi mốt mần tướng cho dòng họ bà con nhờ! Lúc sau, bà con cả họ mới giật mình. Chưa thấy ai to gan như chú. Làng lúc này hoàn toàn “mất an ninh”. Việt Cộng đang kiểm soát, làm chủ tình hình. Rứa mà chú ung dung, nghênh ngang như đi giữa phố, chẳng biết sợ sệt chi... Ngồi khịt khịt mũi uống rượu. Chú bắt đầu nói trạng, lúc sáng vừa chạy vô làng, mấy chú Việt Cộng núp bụi tre thấy tau oai quá bỏ chạy cái rột! Tau thách, Việt Cộng mô dám bắn tau!... Rượu thịt no say, chú vừa nổ xe tành tạch ra đầu xóm thì mấy anh du kích từ sau nương nhà thờ họ lù lù... vô ăn giỗ! Mấy O mấy thím tròn mắt, xanh mặt mày, đứng vuốt ngực hú hồn hú vía! Ui chao, chút nữa là “xáp lá cà” rồi. Thì có ai lạ. Anh Khôi, anh Đà, anh Chót, anh Chẻo... toàn mấy anh đồ đệ của chú cả. Mấy đời đệ tử dám phản sư. Thầy rút phép rút bùa là kể như toi mạng xác phàm. Lúc sáng mấy anh cứ tưởng tay ác ôn vô làng, chuẩn bị nổ súng. Hóa ra thầy. Mừng. Cả mấy anh buông súng cung tay chào theo bộ bái tổ của môn phái. Mấy anh biết thừa, súng đạn lúc này vô dụng, bắn thầy cũng như bắn vô tượng đá tượng đồng. Thầy có rút ru-lô nã mấy anh cũng như nã vô tượng cao su thôi!... Nên anh em hội ý, bố trí dàn đội hình xung quanh nhà thờ họ bảo vệ an toàn cho thầy ngon miệng xôi thịt. Lỡ thầy gặp tụi lính nhảy dù, Hắc báo đi trận về đố mà yên thân. Lính chiến trận với cảnh sát là hai thứ không đội trời chung. Đụng mặt là cà khịa sinh sự. Là nổ súng, rút lựu đạn đòi cưa đôi. Chuyện này xảy ra như cơm bữa!  

Tới Tết năm đó, hai bên được lệnh ngừng bắn ăn Tết bảy ngày. Bảy ngày xuân hòa bình giữa chiến tranh. Cứ như trong mơ. Súng đạn dẹp vô kho vô hầm. Lột quân phục mặc sơ vin. Xóa “vùng mất an ninh”. Bỏ ranh chiến tuyến. Sáng sớm mùng một hai bên bến sông chợ làng đầy ắp người. Bên ni vẫy bên tê. Người làng với nhau cả. Bên tê bắc loa phóng thanh nói vọng qua. Chúng tôi, đại diện Mặt trận Giải phóng miền Nam, chúc bà con làng mình một năm mới an vui, hạnh phúc...! Rồi mấy chuyến đò chèo qua chèo lại, chở người bên tê qua bên ni.  Chợ Tết tưng bừng. Bầu cua cá cọp, tài xỉu bài vụ. Sòng xóc dĩa trải bốn chiếc chiếu, lắc cắc lắc cắc. Chẵn thừa! Lẻ thừa! Anh Du kích chen vai anh địa phương quân. Hôm qua kẻ thù sáng nay anh em một làng một họ. Một dòng máu tông chi. Huynh đệ đồng môn phái... Rồi rượu nếp bánh chưng, mứt gừng dưa món. Chén chú chén anh, như chưa có ngày cầm súng bắn nhau...

Mùng ba Tết thầy. Nhà chú Đún rộn ràng từ sáng sớm. Chú mặc bộ y phục võ sư trắng viền đen, thắt đai đỏ. Tay bắt ấn mắt lim dim tọa thiền trên bộ ngựa gõ giữa nhà. Môn sinh lũ lượt tới, anh Du kích anh Nghĩa quân, cúc cung hoa quả bánh mứt, cúng tổ Tết thầy. Cả môn phái quỳ trước bàn tổ, đọc lại làu làu những điều tuyên thệ lâu nay: Không phản môn phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Cứu người trong lúc nguy nan... Rồi thầy làm lễ thay bùa hộ thân cho hết thảy môn sinh. Thầy nói, vì thời buổi tao loạn, vì hoàn cảnh bắt buộc thầy trò phải cầm súng cả hai bên, nhưng cho đến giờ phút này môn phái chúng ta chưa ai phải đổ máu. Phải giữ lời thệ, cương quyết không để máu phải đổ! Sắp hòa bình, sắp có hòa bình rồi!...

Mùng bảy làng cúng đầu năm. Có tổ chức đua ghe, thông lệ xưa nay của làng. Năm yên bình cũng đua, súng nổ râm trời cũng đua. Người làng nói, Thành hoàng làng mình chuộng nhứt môn này. Năm nào có đua ghe là năm đó làng nước yên ổn, ít súng đạn chết chóc... Ba ngày náo nức chuẩn bị. Buổi sáng trống thúc rộn ràng, ba hồi chín dùi. Sau phần lễ bái của các bô lão, mười hai tay chèo lái vạm vỡ chắp tay dâng hương trước bàn thờ Thành hoàng. Đầy đủ thành phần: Vạn chài, nông dân, nghĩa quân, du kích... Chú Đún được làng bầu trọng tài hội đua. Chú mặc áo dài đen khăn đóng, thắt lưng dải đỏ nhưng chú xin phép làng được dùng cái tu huýt của cảnh sát làm hiệu lệnh,                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    điều phá lệ, trước giờ chưa có. Chú thổi roét roét, các ghe ổn định vị trí, so mũi. Roét roét! Im lặng nghe điều lệ. Roét roét!... Ba tiếng trống lệnh. Mười hai tay cầm chèo từ sân đình chạy lao xuống bến. Náo động. Tưng bừng! Sông nước hân hoan. Cả làng khản giọng! Hò hồ dô khoan! La hè la hè!!!... Tùng tùng, tùng! Tùng tùng, tùng!!... Anh Ích cà quệt lăng xăng ôm máy nhắm, chụp cắc cắc. Mười hai chiếc ghe xé nước lao vùn vụt. Những tay lái vạn chài thân hình vạm vỡ đen bóng ôm mái chèo, đứng thế một chân gác thân chèo. Vặn. Quai chèo kêu lên trèo trẹo. Chồm lên. Vượt lên. Hơn trăm tay chèo vừa buông tay súng, vừa bước ra từ bưng biền, từ những căn hầm bí mật trong làng. Và những tay chèo vừa bước ra từ căn cứ tiền đồn, từ thép gai giăng, từ xe tăng trọng pháo... Đang khuấy nước tranh tài cho vòng lộn vè quyết định. Cả làng hồi hộp trước bến đình náo nức chờ phút giây về đích vinh vang bái tổ. Anh cầm lái ghe về nhất ngã người nạy cho ghe quay lái trăm tám chục độ. Rút chèo khỏi cọc, anh ôm mái chèo dài thượt phóng lên bến, chạy lao qua sân đình với thân hình ướt sũng. Tiếng trống thúc, tiếng reo hò, anh chắp tay trước bàn thờ Thành hoàng vái ba vái và ôm mặt khóc ồ!... Rồi anh về nhì, về ba lao lên... Rồi hơn trăm chàng trai mình trần ướt rũ, buông tay dầm ôm nhau giữa sân đình cười trào nước mắt!...

Bỗng! Hu...hú...ú... ùng oàng!!... ùng ình!!... Cả làng đang vui tưng bừng bỗng giật mình hốt hoảng! Tiếng ca-nông tàu! ... Vi phạm rồi! Ai vi phạm ngừng bắn?! Ai đó la lên. Chưa hết ngày mùng bảy mà! Còn cúng hạ nêu, còn đưa tiễn ông bà nữa chớ?!... Lại ai đó cười hơ hơ. Hạm đội dưới biển bắn lên! Ai vô đây?! Dư thừa súng đạn thì hắn bắn! Nỏ cần biết chi tục lệ dân mềnh!... Chú Đún lại thổi roét roét. Th...ôi! Súng nổ rồi! Yêu cầu anh em giải tán, bên mô về bên nấy!...

Rồi ngày đoàn viên thật sự ấy cũng không xa. Hơn hai cái Tết sau, làng nước đã tưng bừng Giải phóng Miền Nam/Chúng ta cùng quyết tiến bước... Rồi Từ Bắc vô Nam nối tròn nắm tay.... Cờ nối gió đêm vui nối ngày/dòng máu nối con tim đồng loại/dựng tình người trong ngày mới...                               

Ngày đầu im tiếng súng, chú Đún mặc thường phục, râu ria cạo nhẵn. Chiếc gô-ben có cắm lá cờ giải phóng bằng bàn tay chạy tành tạch về làng. Chú là người đầu tiên ra trình diện ban quân quản. Xét thấy chú trước nay chỉ mần anh cảnh sát công lộ, dân làng nhiều người biết, chú chẳng có nợ máu nợ mủ chi với nhân dân. Chú được chính quyền cách mạng khoan hồng, cho học tập mươi ngày tại đình làng, được trả quyền công dân tại địa phương... Việc trước tiên, chú về nhà là lặng lẽ dẹp bàn thờ tổ và tự xóa sổ môn phái Thần Quyền. Chú thắp ba cây hương làm lễ “tiễn thần về núi an vị”!... Chỉ còn lại trong chú là niềm sung sướng toại nguyện. Hôm trước trong đình làng chú gặp anh Chẻo và anh Khôi trong ban quân quản của xã, hai anh báo tin mừng là toàn bộ anh em du kích trong làng  đều còn đầy đủ, nguyên vẹn cho tới ngày giải phóng. Kể cả anh em bên địa phương quân, Nghĩa quân cũng ra trình diện đủ mặt cả. Ngon lành nhứt là anh Ích, có cha đi tập kết miền Bắc về, chừ anh được đề cử vào ghế phó chủ tịch lâm thời của xã. Khẩu K54 anh mang xề xệ bên hông, cà lắc cà lắc theo cái chân bại. Lại quá hợp với cái tật!

Hôm chú Đún tới ủy ban tìm anh Ích lúc sáng sớm. Chú cầm thứ gì đó gọn trong lòng bàn tay vẻ rụt rè khúm núm trước ông phó chủ tịch, rồi chú chìa ra: Cái tu huýt cảnh sát! Chú nói: “Cái này cũng thuộc “quân trang quân dụng” của địch trang bị cho... thầy! Chừ xin giao nộp lại chính quyền cách mạng!”. Anh Ích cười cười: “Nhưng mà nó đã thành cái còi của trọng tài đua ghe! Chừ nó là của làng, mà làng mình còn đua ghe đời đời!... Thầy cứ phải cất lấy!”.

Nguồn Văn nghệ số 14/2015

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *