Yếu tố trữ tình là phần cảm xúc, tâm trạng, suy tư của người viết hoặc nhân vật được bộc lộ trong văn bản, trực tiếp bằng lời giãi bày hay gián tiếp qua cảnh vật, chi tiết. Gọi là “yếu tố” vì nó thường xen vào những văn bản vốn không thuộc loại trữ tình: truyện, kí, tùy bút, tản văn, cả văn nghị luận. Đề đọc hiểu hay hỏi “chỉ ra yếu tố trữ tình trong đoạn trích” chính là hỏi phần này.
| Khái niệm | Thành phần biểu hiện cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ chủ quan trong một văn bản |
| Nghĩa chữ | Trữ tình (抒情): bày tỏ tình cảm |
| Thường gặp trong | Truyện thơ, truyện ngắn, tùy bút, tản văn, bút kí, văn nghị luận |
| Dấu hiệu nhận biết | Lời bộc bạch của “tôi”, “ta”; từ ngữ cảm xúc; cảnh vật nhuốm tâm trạng; câu cảm thán, câu hỏi tu từ |
| Học ở | Ngữ văn THCS và THPT, rõ nhất ở phần tùy bút, tản văn lớp 11 |

Yếu tố trữ tình nằm ở đâu?
Thử hình dung một văn bản như một tấm vải dệt nhiều sợi. Sợi kể chuyện cho biết chuyện gì xảy ra, sợi miêu tả cho thấy sự vật trông thế nào, sợi nghị luận đưa ra lí lẽ. Yếu tố trữ tình là sợi cảm xúc: những chỗ người viết dừng lại để nói mình thương, nhớ, đau, tiếc, hay để cảnh vật mang hộ nỗi lòng ấy.
Chữ trữ tình (抒情) vốn nghĩa là bày tỏ tình cảm; từ điển tiếng Việt ghi đây là tính từ chỉ lối phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người. Khi cả văn bản lấy cảm xúc làm trục chính, ta có tác phẩm trữ tình, như phần lớn thơ trữ tình. Khi cảm xúc chỉ là một thành phần đan vào văn bản thuộc loại khác, ta gọi đó là yếu tố trữ tình. Hai khái niệm này liên quan nhưng không trùng nhau; nghĩa rộng của chữ được giảng ở bài giải nghĩa chữ trữ tình 抒情.
Chương trình Ngữ văn 2018 nhắc đến khái niệm này nhiều nhất ở lớp 11: cả bộ Kết nối tri thức lẫn Chân trời sáng tạo đều đặt yêu cầu: đọc tùy bút, tản văn thì phải chỉ ra chỗ nào kể, chỗ nào bày tỏ cảm xúc, và hai phần ấy đan vào nhau ra sao. Truyện thơ Nôm cũng được giới thiệu như loại tác phẩm tự sự có kết hợp phương thức trữ tình.
Trữ tình, yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự: một bảng cho gọn
| Khái niệm | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Trữ tình (loại tác phẩm) | Cảm xúc là trục chính của cả văn bản | Thu điếu, Qua Đèo Ngang |
| Yếu tố trữ tình | Phần cảm xúc xen vào văn bản thuộc loại khác | Tâm trạng Liên trong Hai đứa trẻ |
| Yếu tố tự sự | Phần kể sự việc xen vào thơ, văn biểu cảm, nghị luận | Câu chuyện kể lại trong bài thơ Lượm |
| Biểu cảm (phương thức biểu đạt) | Cách dùng ngôn ngữ để bày tỏ tình cảm | Một đoạn văn nói lên lòng biết ơn thầy cô |
Yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự là cặp đôi hay đi cùng nhau: một bên kể, một bên cảm. Bài phần kể chuyện xen trong thơ và văn nghị luận nói về chiều ngược lại, khi câu chuyện chen vào văn bản vốn để bày tỏ cảm xúc.
Bốn dấu hiệu để khoanh vùng
- Có người đang bộc bạch. Đại từ “tôi”, “ta”, “mình” đi cùng động từ cảm xúc: tôi nhớ, ta thương, lòng tôi se lại. Đây là dạng trực tiếp, dễ thấy nhất.
- Từ ngữ mang màu cảm xúc. Tính từ, từ láy chỉ tâm trạng như man mác, bâng khuâng, xót xa, buồn tênh; câu cảm thán và câu hỏi tu từ.
- Cảnh vật nhuốm tâm trạng. Cảnh không còn trung tính mà buồn, vui, cô quạnh theo lòng người nhìn. Đây là dạng gián tiếp, hay bị bỏ sót khi làm bài.
- Nhịp kể chậm lại. Đang kể sự việc, người viết ngừng để suy ngẫm, liên tưởng, chiêm nghiệm. Câu văn dài ra, giàu nhạc điệu, nhiều so sánh, ẩn dụ.
Một mẹo nhỏ: gạch bỏ hết các câu kể sự việc trong đoạn. Phần còn lại mà vẫn khiến người đọc thấy một nỗi lòng thì gần như chắc chắn đó là yếu tố trữ tình.
Soi vào Truyện Kiều, Thạch Lam và sông Hương
Truyện thơ: bốn lần “buồn trông” ở lầu Ngưng Bích
Truyện Kiều là truyện thơ, xương sống là câu chuyện đời Thúy Kiều. Nhưng đến đoạn nàng bị giam ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du gần như dừng kể để cho cảm xúc tràn ra:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Sự việc chỉ có một: Kiều nhìn ra biển. Mọi thứ còn lại là tâm trạng. Điệp ngữ “buồn trông” lặp bốn lần ở tám câu cuối, cánh buồm “thấp thoáng” như niềm hi vọng mong manh, câu hỏi bỏ lửng không có lời đáp. Yếu tố trữ tình ở đây giúp người đọc hiểu nhân vật từ bên trong, điều mà lời kể đơn thuần không làm được. Bài tìm hiểu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có bố cục và nội dung chi tiết.
Truyện ngắn: phố huyện lúc chiều tàn
Truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam gần như không có cốt truyện: chị em Liên ngồi nhìn phố huyện từ lúc chiều xuống đến khi chuyến tàu đêm đi qua. Cái giữ chân người đọc là nỗi buồn man mác của Liên trước cảnh ngày tàn, niềm thương những kiếp người nhỏ nhoi quanh mình, và niềm mong đợi chuyến tàu như mong một chút ánh sáng khác. Cảnh và tình hòa vào nhau, nên người ta gọi đây là truyện ngắn giàu chất trữ tình. Xem phần tác giả, bố cục ở bài tìm hiểu truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Bút kí: dòng sông như một người con gái
Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường cung cấp khá nhiều hiểu biết về địa lí, lịch sử của sông Hương. Nhưng ông không kể như người viết sách địa lí. Dòng sông được nhìn như một người con gái, có lúc phóng khoáng, lúc dịu dàng, lúc lưu luyến không nỡ rời Huế. Tình yêu xứ Huế của người viết thấm vào từng hình ảnh ấy. Câu hỏi đọc hiểu về đoạn này nằm trong bài soạn bút kí về sông Hương lớp 11.
Văn nghị luận: lời hịch có nước mắt
Hịch tướng sĩ là văn nghị luận, mục đích là thuyết phục tướng sĩ học binh pháp, sẵn sàng đánh giặc. Thế mà có một đoạn Trần Quốc Tuấn kể nỗi lòng mình: quên ăn, mất ngủ, đau xót đến nỗi nước mắt đầm đìa, chỉ mong sớm trừ được giặc. Đoạn ấy là yếu tố trữ tình. Lí lẽ khiến người ta hiểu; còn tấm lòng của chủ tướng khiến người ta muốn theo.
Thực hành: bốn câu nhận diện yếu tố trữ tình
Câu 1: Đoạn văn sau có yếu tố trữ tình không? “Chiều nay tôi về qua ngõ cũ. Cây bàng đầu ngõ đã bị chặt, chỉ còn một khoảng trống. Tự dưng tôi thấy lòng mình trống theo.” (đoạn tự đặt)
Đáp án: Có. Hai câu đầu là kể và tả (về qua ngõ, cây bàng bị chặt). Câu cuối là yếu tố trữ tình: nhân vật “tôi” trực tiếp bộc lộ cảm giác hụt hẫng, và hình ảnh “khoảng trống” của cảnh được chuyển thành khoảng trống trong lòng.
Câu 2: Hai câu “Buồn trông cửa bể chiều hôm, / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?” bộc lộ cảm xúc bằng cách trực tiếp hay gián tiếp?
Đáp án: Cả hai. Chữ “buồn” nói thẳng tâm trạng; còn cánh buồm “thấp thoáng”, “xa xa” và câu hỏi tu từ là cách gián tiếp, để cảnh vật gợi nỗi cô đơn, nhớ nhà, mong ngóng của Kiều.
Câu 3: Vì sao nói tùy bút thường nghiêng về yếu tố trữ tình hơn tản văn?
Đáp án: Trục của tùy bút là con người tác giả: viết đến đâu, cảm đến đấy, việc và cảnh được nhắc tới chủ yếu để dẫn vào nỗi lòng. Tản văn cũng có bóng dáng người viết, nhưng chia phần đều hơn cho việc kể, tả, bàn, và giữ cảm xúc ở mức kìm nén hơn. Đặc điểm của thể loại này có ở bài tùy bút và chỗ dựa là cái tôi tác giả.
Câu 4: Nêu tác dụng của yếu tố trữ tình trong một bài văn nghị luận về lòng biết ơn.
Đáp án tham khảo: Yếu tố trữ tình (chẳng hạn vài câu bày tỏ lòng thương ông bà, thầy cô) làm lí lẽ bớt khô, tạo sự đồng cảm, cho thấy người viết tin vào điều mình nói. Tuy vậy cần vừa phải: nghị luận vẫn phải dựa trên luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng; cảm xúc lấn át sẽ biến bài thành văn biểu cảm.
Khi trả lời câu hỏi đọc hiểu, đừng chỉ chép lại câu có chữ “buồn”, “thương”. Hãy gọi tên cảm xúc, chỉ ra nó được bộc lộ trực tiếp hay qua cảnh, rồi nói nó giúp ta hiểu gì thêm về nhân vật hoặc người viết.
Yếu tố trữ tình qua từng thể loại
Yếu tố trữ tình trong tùy bút là gì?
Là những chỗ cái tôi tác giả trực tiếp giãi bày cảm xúc, suy tư về người, cảnh, việc mình ghi lại. Ở tùy bút, phần này thường chiếm ưu thế; chuyện kể chỉ làm nền cho cảm xúc.
Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn thể hiện qua đâu?
Qua tâm trạng nhân vật, qua giọng kể giàu cảm xúc và qua cảnh vật được tả theo cái nhìn của nhân vật. Truyện của Thạch Lam hay Tôi đi học của Thanh Tịnh là những ví dụ quen thuộc của truyện ngắn trữ tình.
Vai trò của yếu tố trữ tình là gì?
Nó giúp văn bản chạm đến cảm xúc người đọc, làm rõ thế giới bên trong của nhân vật hoặc người viết, và làm lời kể, lời bàn thêm sức gợi. Trong nghị luận, nó tăng sức thuyết phục bằng tình cảm.
Yếu tố trữ tình và yếu tố biểu cảm có giống nhau không?
Gần nhau nhưng không hẳn là một. Biểu cảm là tên một phương thức biểu đạt, nói về cách dùng ngôn ngữ; yếu tố trữ tình là cách gọi thành phần cảm xúc trong văn bản khi phân tích văn học. Trong nhiều đề bài, hai cách gọi được dùng gần như thay nhau.