Vô công rồi nghề là thành ngữ chỉ người không có việc làm thường xuyên, cũng chẳng phải lo toan gì, nên rảnh rang sinh ra làm những chuyện không đâu vào đâu. Câu này luôn mang ý chê. Gọi ai là kẻ vô công rồi nghề nghĩa là trách họ ăn không ngồi rồi, rảnh quá hóa lắm chuyện.
| Nghĩa ngắn | Rảnh rỗi vì không có việc, rồi bày ra việc vô bổ hoặc xen vào chuyện người khác |
| Cấu tạo | Thành ngữ bốn chữ, hai vế đối nhau: vô công / rồi nghề |
| Chữ “rồi” | Nghĩa cũ là rỗi, rảnh, không phải “rồi” chỉ việc đã xong |
| Sắc thái | Chê trách, khẩu ngữ; không dùng để nói người đang thất nghiệp và cố tìm việc |

Vô công rồi nghề chê ai?
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, thành ngữ này nói người không có việc làm thường xuyên hoặc không phải bận bịu, lo lắng gì, kèm lời chú rằng vì thế họ hay làm những việc không đâu vào đâu, có hàm ý chê. Từ điển đặt nó cạnh rỗi hơi như một từ đồng nghĩa.
Phần đáng chú ý nằm ở vế sau của lời giảng. Vô công rồi nghề không dừng ở chỗ “không có việc”. Nó nhắm vào cái hệ quả: rảnh quá rồi sinh tật. Kho thành ngữ của VDict cũng giảng theo hướng ấy, nhấn vào chuyện nhàn rỗi, lêu lổng nên dễ bày đặt, nói năng hoặc làm việc chẳng liên quan đến mình.
- Mấy tay vô công rồi nghề ngồi quán nước đầu ngõ, ai đi qua cũng bị bình phẩm một câu.
- Toàn chuyện của người vô công rồi nghề bịa ra, con đừng tin.
- Nghỉ hè được ba hôm, thằng bé đã tháo tung cái quạt, đúng kiểu vô công rồi nghề.
Câu thứ ba cho thấy thành ngữ còn dùng được theo giọng trêu, khi người nói thương nhiều hơn trách. Còn ở hai câu đầu, sức nặng của lời chê rõ hơn hẳn.
Đứng cạnh rỗi hơi, ăn không ngồi rồi và thất nghiệp
| Cách nói | Điểm giống | Điểm khác |
|---|---|---|
| Rỗi hơi | Cùng nói người có thời gian thừa | Hay dùng cho một việc cụ thể: “rỗi hơi đi cãi nhau với người lạ” |
| Ăn không ngồi rồi | Cùng chê sự nhàn rỗi | Nặng về lười, chỉ hưởng mà không làm; ít nói đến chuyện bày việc |
| Nhàn cư vi bất thiện | Cùng ý rảnh rỗi dễ sinh điều không hay | Câu Hán Việt, mang tính khuyên răn hơn là chê một người |
| Thất nghiệp | Cùng là không có việc làm | Trung tính, chỉ tình trạng; không hề chê người đó lười hay lắm chuyện |
| Nhàn rỗi, thư thả | Cùng có thời gian rảnh | Có thể là sự nghỉ ngơi chính đáng, không mang ý xấu |
Ở chiều ngược lại là những cách nói về người bận bịu, chịu khó: tất bật, quần quật, chân lấm tay bùn, một nắng hai sương. Người như thế không còn thời gian để mà “rỗi” sinh chuyện.
Giới trẻ còn nói vui bằng câu rảnh rỗi sinh nông nổi, ý rằng nhàn quá thì dễ nghĩ ra những chuyện bồng bột, thiếu suy tính.
Tiếng Anh có chữ NEET để gọi người trẻ không đi học, không đi làm, cũng không học nghề; chữ ấy tả một hoàn cảnh chứ không sẵn ý chê như vô công rồi nghề.
Chữ rồi ở đây là rỗi
Đọc lướt, nhiều người hiểu “rồi nghề” là “đã xong nghề” và thấy câu thành ngữ hơi vô lý. Thật ra “rồi” ở đây là một từ cũ nghĩa là rỗi, rảnh. Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức có ghi nghĩa rỗi, rảnh cho chữ này, và chữ “rồi” trong câu thành ngữ được hiểu theo đúng nghĩa ấy. Cái “rồi” trong ăn không ngồi rồi cũng là anh em với nó: ngồi rồi tức là ngồi không, ngồi rảnh.
Vế đầu dễ hơn. “Vô” là không, “công” là việc, công việc. Ghép hai vế, ta có một cặp đối rất cân: vô công (không có việc) đi với rồi nghề (rảnh nghề). Hai vế cùng nói một ý, lặp lại để nhấn mạnh, giống lối cấu tạo của nhiều thành ngữ bốn chữ khác.
Vì “rồi” chính là “rỗi” nên trên báo, trên mạng vẫn gặp cách viết vô công rỗi nghề. Người đọc hiểu được, nhưng mục từ trong từ điển là “vô công rồi nghề”, nên khi viết bài, viết văn bản, ta giữ chữ “rồi”.
Khi đề bài hỏi về người sống nhàn rỗi
Các đề nghị luận về thói lười, về cách dùng thời gian rảnh hay về lối sống “nằm dài chờ việc” rất hợp để dẫn thành ngữ này. Vài gợi ý cách đặt nó vào bài:
- Mở đề bằng hình ảnh: tả một nhóm người ngồi quán cả buổi chỉ để bàn chuyện nhà hàng xóm, rồi gọi tên: đó là lối sống vô công rồi nghề.
- Phân biệt cho công bằng: người mất việc và đang tìm việc không đáng chê; cái đáng chê là thái độ buông xuôi, dùng thời gian rảnh để soi mói, gây chuyện.
- Nêu tác hại: thời gian trôi vô ích, sinh thói ngồi lê đôi mách, có khi sa vào tệ nạn.
- Bài học: rảnh thì học thêm một việc, giúp nhà một tay, đọc một cuốn sách.
Muốn mở rộng sang chuyện lười nói chung, có thể đọc bài giải nghĩa cái lười và tục ngữ chê người biếng nhác. Còn nếu bài viết đi theo hướng sửa mình, phần về cách một nếp sinh hoạt hình thành rồi thành tật sẽ cho thêm ý.
Một lưu ý khi dùng: đừng gọi một người vừa mất việc là “vô công rồi nghề” chỉ vì họ đang ở nhà. Câu thành ngữ chê cái tật rảnh quá sinh chuyện, chứ không chê hoàn cảnh không có việc.
Vô công rồi nghề trong lời ăn tiếng nói
Vô công rồi nghề nghĩa là gì?
Là không có việc làm thường xuyên, chẳng phải lo nghĩ gì, nên rảnh rỗi và hay làm, hay nói những chuyện không đâu. Thành ngữ dùng để chê.
Kẻ vô công rồi nghề là người như thế nào?
Là người có nhiều thời gian thừa mà không dùng vào việc có ích: ngồi lê quán xá, bàn tán chuyện người khác, bày trò cho vui. Chữ “kẻ” đi kèm càng làm lời chê nặng thêm.
Viết “vô công rỗi nghề” có sai không?
Người đọc vẫn hiểu, vì “rồi” trong câu này chính là “rỗi”. Tuy vậy từ điển ghi “vô công rồi nghề”, nên trong bài làm văn và văn bản chính thức nên viết theo dạng này.
Vô công rồi nghề đồng nghĩa với từ nào?
Gần nhất là rỗi hơi và ăn không ngồi rồi. Câu Hán Việt nhàn cư vi bất thiện nói cùng một ý theo lối khuyên răn: ở không thì dễ làm điều chẳng hay.