Phương thức biểu đạt là cách người nói, người viết tổ chức lời lẽ để đạt một mục đích giao tiếp: kể chuyện, tả cảnh, bày tỏ cảm xúc, bàn luận, cung cấp hiểu biết hay giải quyết một việc hành chính. Sách Ngữ văn quen chia thành sáu phương thức. Trong đề đọc hiểu, câu hỏi “xác định phương thức biểu đạt chính” gần như năm nào cũng gặp, nên bài này đi kèm ví dụ và bài tập có đáp án.
| Nghĩa ngắn | Cách thức dùng ngôn ngữ để truyền tải nội dung theo một mục đích giao tiếp nhất định |
| Gồm | Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ |
| Thuộc | Kiến thức tiếng Việt – làm văn, gắn với các kiểu văn bản |
| Dấu hiệu nhận biết chung | Mục đích của đoạn văn và lớp từ ngữ chiếm ưu thế trong đó |

Hiểu đúng chữ “phương thức biểu đạt”
Tách từng chữ ra cho dễ nhớ: phương thức là cách làm, biểu đạt là bày ra cho người khác hiểu. Ghép lại, đó là con đường mà người viết chọn để đưa ý nghĩ của mình tới người đọc. Cùng nói về một cơn mưa, có người kể lại chuyện mình bị ướt sũng trên đường đi học, có người tả màu trời và tiếng mưa gõ mái tôn, có người lại viết về nỗi nhớ nhà khi nghe mưa. Đề tài giống nhau, nhưng ba cách đi khác nhau.
Điểm mấu chốt nằm ở mục đích giao tiếp. Muốn người đọc biết chuyện gì đã xảy ra thì kể; muốn họ hình dung được thì tả; muốn họ đồng cảm thì bộc lộ cảm xúc; muốn họ tin một ý kiến thì lập luận. Nắm được câu hỏi “người viết đang muốn làm gì với mình?” là đã đi được nửa đường khi nhận diện phương thức.
Ở chương trình Ngữ văn trước đây, phần này được học từ lớp 6 cùng bài về giao tiếp và văn bản, và mỗi phương thức gắn với một kiểu văn bản cùng tên: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản nghị luận…
Bảng sáu phương thức: mục đích, dấu hiệu, ví dụ
Bảng dưới gom những gì cần nhớ để làm bài. Phần ví dụ được viết ngắn, đủ để thấy “mùi” của từng phương thức.
| Phương thức | Mục đích | Dấu hiệu nhận biết | Ví dụ ngắn |
|---|---|---|---|
| Tự sự | Kể lại sự việc, câu chuyện | Có nhân vật, chuỗi sự việc nối nhau theo thời gian, nhiều động từ chỉ hành động; có mở đầu và kết thúc | “Sáng ấy, tôi dắt xe ra cổng thì thấy bà cụ hàng xóm ngã bên vệ đường. Tôi chạy lại đỡ bà dậy…” |
| Miêu tả | Giúp người đọc hình dung sự vật, con người, cảnh vật | Nhiều tính từ, từ láy gợi hình gợi thanh; so sánh, liên tưởng; tả màu sắc, âm thanh, đường nét | “Hàng phượng trước lớp trổ hoa đỏ rực, tán lá xòe rộng như những chiếc ô xanh thẫm.” |
| Biểu cảm | Bày tỏ tình cảm, cảm xúc của người viết | Từ ngữ chỉ cảm xúc (thương, nhớ, buồn, vui), câu cảm thán, từ “ôi”, “biết bao”; giọng văn thiết tha | “Mỗi lần đi xa, tôi lại nhớ quay quắt mùi khói bếp chiều của mẹ.” |
| Nghị luận | Nêu ý kiến, thuyết phục người đọc tin theo | Có luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng; từ nối lập luận như “bởi vì”, “do đó”, “thật vậy”, “tuy nhiên” | “Đọc sách giúp ta sống thêm nhiều cuộc đời. Bởi vậy, mỗi người trẻ nên dành cho sách một chỗ trong ngày.” |
| Thuyết minh | Cung cấp tri thức khách quan về đặc điểm, cấu tạo, cách làm | Thông tin chính xác, số liệu, định nghĩa, phân loại; giọng trung tính, ít cảm xúc riêng | “Bánh chưng thường có hình vuông, gồm gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, được gói bằng lá dong.” |
| Hành chính – công vụ | Trao đổi công việc giữa người với cơ quan, tổ chức theo thể thức | Khuôn mẫu cố định: quốc hiệu, tên văn bản, kính gửi, nội dung đề nghị, ngày tháng, chữ kí | Đơn xin nghỉ học, giấy mời họp phụ huynh, biên bản sinh hoạt lớp |
Hai phương thức hay bị hỏi nhiều nhất trong đọc hiểu là biểu cảm và nghị luận. Về nghị luận, nếu cần ôn lại luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng thì xem văn nghị luận và ba thành phần của nó. Hành chính – công vụ thì gần như không xuất hiện trong đề đọc hiểu vì ngữ liệu thường là văn chương hoặc bài báo.
Cách xác định phương thức biểu đạt chính trong đề đọc hiểu
Ít đoạn văn nào dùng trọn một phương thức. Một truyện ngắn vẫn có câu tả cảnh, một bài thơ vẫn có chút kể. Đề thường hỏi phương thức chính, tức phương thức chiếm ưu thế và phục vụ mục đích chung của cả đoạn. Có thể làm theo trình tự sau:
- Đọc lướt và hỏi mục đích. Đoạn này muốn kể, tả, bày tỏ, thuyết phục hay cung cấp thông tin? Câu trả lời đầu tiên thường đúng.
- Soi lớp từ ngữ nổi bật. Dày động từ hành động và mốc thời gian thì nghiêng về tự sự; dày tính từ, từ láy thì nghiêng về miêu tả; dày từ cảm xúc và câu cảm thì là biểu cảm; có câu nêu ý kiến kèm “vì”, “cho nên” thì là nghị luận.
- Nhìn thể loại của ngữ liệu. Thơ trữ tình gần như luôn có biểu cảm là chính. Đoạn trích truyện thường là tự sự. Bài báo đưa số liệu, giải thích hiện tượng thường là thuyết minh.
- Kể thêm phương thức kết hợp nếu đề hỏi “các phương thức”. Lúc này liệt kê đủ, nhưng nêu phương thức chính trước.
Thử áp vào vài văn bản quen. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao lấy tự sự làm chính, xen những đoạn tả ngoại hình lão Hạc và những đoạn người kể bộc lộ suy nghĩ, tức có kết hợp miêu tả, biểu cảm (đối chiếu câu hỏi ở phần soạn Lão Hạc lớp 9). Tuyên ngôn Độc lập là nghị luận. Một bài báo giới thiệu lễ hội kèm số liệu khách tham quan là thuyết minh.
Một lỗi hay gặp: thấy đoạn văn có cảm xúc là ghi ngay “biểu cảm”. Văn nghị luận xã hội cũng có câu cảm thán, nhưng mục đích của nó vẫn là thuyết phục, nên phương thức chính là nghị luận.
Sách mới còn dùng chữ này không?
Đây là chỗ nhiều bạn lớp dưới bối rối. Chương trình Ngữ văn 2018 tổ chức việc đọc theo ba loại văn bản: văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin. Ở phần viết, sách mới gọi tên theo kiểu văn bản và kiểu bài cụ thể, chẳng hạn kể lại một trải nghiệm, tả cảnh sinh hoạt, bài văn biểu cảm, bài văn nghị luận, văn bản thông tin. Thuyết minh theo cách gọi cũ được xếp vào nhóm văn bản thông tin; muốn rõ hơn về nhóm này, đọc phần văn bản thông tin trong sách giáo khoa.
Nói gọn: chữ “phương thức biểu đạt” ít xuất hiện trong sách mới, nhưng các khái niệm tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận vẫn còn nguyên, thường đi dưới dạng “yếu tố” (yếu tố miêu tả, yếu tố biểu cảm trong văn bản tự sự) hoặc tên kiểu bài. Một số đề ôn thi và đề kiểm tra vẫn hỏi “phương thức biểu đạt chính”, nên học sinh vẫn nên thuộc sáu phương thức ở trên. Khi đề dùng chữ “kiểu văn bản” hay “yếu tố”, cứ trả lời theo đúng chữ mà đề dùng.
Muốn luyện từng kiểu viết, có thể bắt đầu từ bài văn kể lại trải nghiệm ở lớp 6 cho tự sự, văn mẫu tả một cảnh sinh hoạt cho miêu tả, và bài văn biểu cảm về con người lớp 7.
Luyện tập xác định phương thức biểu đạt
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn sau: “Chiều qua, tôi đạp xe về quê ngoại. Đến đầu làng thì xe tuột xích. Một cậu bé chăn trâu chạy lại, lúi húi lắp giúp tôi rồi cười toe chạy mất.”
Đáp án: Tự sự. Đoạn văn kể một chuỗi sự việc nối nhau theo thời gian (đạp xe về quê, xe tuột xích, cậu bé lắp giúp), có nhân vật và nhiều động từ hành động.
Câu 2: Đoạn “Nước biển vùng này xanh như ngọc. Sóng vỗ rì rào, bọt trắng tung lên rồi tan dần trên cát mịn.” dùng phương thức nào là chính?
Đáp án: Miêu tả. Đoạn văn dùng tính từ chỉ màu sắc (xanh, trắng), từ láy gợi âm thanh (rì rào) và phép so sánh (xanh như ngọc) để người đọc hình dung cảnh biển.
Câu 3: Một đoạn văn viết: “Có người cho rằng điểm số là tất cả. Thật ra, điểm số chỉ đo được một phần năng lực. Bằng chứng là nhiều người thành công nhờ kĩ năng và sự bền bỉ.” Phương thức chính là gì?
Đáp án: Nghị luận. Đoạn văn nêu một ý kiến, phản bác quan điểm khác và đưa lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục; các từ “thật ra”, “bằng chứng là” là dấu hiệu lập luận.
Câu 4: Bài thơ viết về nỗi nhớ mẹ của người con đi xa thường có phương thức biểu đạt chính nào? Vì sao?
Đáp án: Biểu cảm. Mục đích của bài thơ là bày tỏ tình cảm của người con; dù có câu kể, câu tả, những yếu tố ấy đều phục vụ cảm xúc nhớ thương.
Câu 5: “Đơn xin chuyển lớp” của một học sinh thuộc phương thức biểu đạt nào?
Đáp án: Hành chính – công vụ. Văn bản viết theo thể thức cố định (quốc hiệu, kính gửi, lí do, đề nghị, chữ kí) để giải quyết một việc với nhà trường.
Những thắc mắc khi ôn phương thức biểu đạt
Phương thức biểu đạt là gì, có ví dụ dễ nhớ không?
Đó là cách dùng ngôn ngữ để đạt mục đích giao tiếp. Ví dụ dễ nhớ: kể chuyện đi chơi là tự sự, tả khu vườn là miêu tả, viết thư bày tỏ lòng biết ơn thầy cô là biểu cảm, viết bài khuyên bạn bè đọc sách là nghị luận.
Có mấy phương thức biểu đạt?
Theo cách chia quen thuộc trong sách Ngữ văn có sáu: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính – công vụ. Trong đề đọc hiểu, năm phương thức đầu xuất hiện nhiều hơn hẳn.
Thơ có phải lúc nào cũng là biểu cảm không?
Phần lớn bài thơ trữ tình lấy biểu cảm làm chính. Tuy vậy, thơ tự sự hay truyện thơ (như Truyện Kiều) có thể lấy tự sự làm chính, còn những bài thơ giàu cảnh có thể kết hợp miêu tả rất đậm. Hãy dựa vào mục đích cả bài để kết luận.
Phương thức biểu đạt khác biện pháp tu từ thế nào?
Phương thức biểu đạt là cách tổ chức cả đoạn, cả bài theo mục đích giao tiếp. Biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ chỉ là cách dùng từ, đặt câu ở một chỗ cụ thể để tăng sức gợi. Một đoạn miêu tả có thể chứa nhiều phép so sánh, nhưng so sánh không phải là phương thức biểu đạt.