Hoán dụ là phép tu từ mượn tên của một thứ luôn gắn liền với đối tượng để gọi thay cho chính đối tượng ấy, giúp lời văn giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và gọn hơn. Khi nói “cả lớp im phăng phắc”, ta đang dùng biện pháp hoán dụ: “lớp” là căn phòng, nhưng thứ im lặng là những người ngồi trong đó.
| Khái niệm | Gọi tên A bằng tên B, vì A và B gắn liền, đi kèm nhau trong thực tế |
| Nghĩa của tên gọi | Hoán là đổi, dụ là ví: đổi tên gọi để nói về một đối tượng |
| Thuộc | Biện pháp tu từ từ vựng, nhóm chuyển nghĩa, cùng nhóm với ẩn dụ |
| Dấu hiệu nhận biết | Hiểu theo nghĩa đen thì lệch; quan hệ giữa A và B là bộ phận, vật chứa, dấu hiệu hoặc cái cụ thể |
| Học ở | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (Bài 4, Thực hành tiếng Việt trang 99); ôn lại ở các lớp trên qua câu hỏi đọc hiểu |

Hoán dụ được định nghĩa thế nào trong SGK?
Sách Ngữ văn 6 định nghĩa hoán dụ theo hai vế: đối tượng được gọi bằng tên của một đối tượng khác, và giữa hai bên phải có quan hệ gần gũi; mục đích là làm lời văn gợi hình, gợi cảm hơn. Vế thứ hai là chìa khóa. Giới nghiên cứu tu từ học gọi đó là quan hệ tương cận: hai sự vật không cần giống nhau, chỉ cần thường xuyên đi cùng nhau, nằm trong nhau hoặc cái này là một phần của cái kia.
Ở sách Kết nối tri thức, hoán dụ xuất hiện trong Bài 4 “Quê hương yêu dấu”. Phần thực hành tiếng Việt trang 99 yêu cầu giải thích những cách nói như “nhắm mắt xuôi tay”, “mái nhà tranh, đồng lúa chín” hay “áo cơm cửa nhà”. Cụm cuối là một mẫu dễ hiểu: áo, cơm, cửa, nhà là những vật cụ thể, gộp lại để nói cả một cuộc sống giản dị, đủ đầy. Sách chương trình cũ dạy hoán dụ ở học kì II lớp 6 và chia thành bốn kiểu; cách chia ấy vẫn được giáo viên dùng khi ôn tập.
Dấu hiệu: tìm mối quan hệ “đi liền” giữa hai sự vật
Để nhận ra hoán dụ, hãy đặt cho từ ngữ khả nghi một câu hỏi: từ này đang thay cho ai, cho cái gì? Nếu câu trả lời là một thứ luôn đi kèm với nó trong đời thật, đó là hoán dụ.
Lấy câu “Cả sân vận động đứng lên”. Sân vận động là bê tông, cỏ, khán đài; nó không đứng lên được. Thứ đứng lên là khán giả. Khán giả và sân vận động chẳng giống nhau chút nào, nhưng khán giả ở trong sân. Quan hệ chứa đựng ấy chính là cơ sở của phép hoán dụ.
Mẹo kiểm tra: thay từ đó bằng tên thật (“Mọi khán giả đứng lên”). Câu vẫn đúng ý mà mất hình ảnh thì nhiều khả năng đó là hoán dụ.
Bộ phận, vật chứa, dấu hiệu, cái cụ thể: bốn cách gọi thay
Bốn kiểu dưới đây lấy theo cách chia của sách Ngữ văn 6 chương trình cũ. Mỗi kiểu ứng với một kiểu “gần gũi” khác nhau giữa A và B.
| Kiểu hoán dụ | B (từ được dùng) | A (đối tượng thật) | Ví dụ đời thường |
|---|---|---|---|
| Lấy bộ phận gọi toàn thể | Một phần cơ thể, một chi tiết | Cả con người, cả sự vật | “Nhà có năm miệng ăn” |
| Lấy vật chứa gọi vật bị chứa | Nơi chốn, đồ đựng | Người, vật ở bên trong | “Cả xóm kéo ra xem” |
| Lấy dấu hiệu gọi sự vật | Trang phục, màu sắc, đặc điểm dễ thấy | Người, nhóm người mang dấu hiệu ấy | “Áo trắng đứng chật cổng trường” |
| Lấy cái cụ thể gọi cái trừu tượng | Con số, đồ vật nhìn thấy được | Ý niệm, tình cảm, phẩm chất | “Cô ấy có một trái tim ấm áp” |
Ranh giới giữa các kiểu đôi khi mờ. “Trái tim” là bộ phận cơ thể, nhưng ở câu trên nó chỉ lòng tốt, nên xếp vào kiểu thứ tư mới sát: hãy xét B thay cho cái gì.
Đọc hoán dụ trong ca dao, Truyện Kiều và thơ Tố Hữu
Hoán dụ ít khi chỉ để “đổi tên cho hay”; nó nhấn vào đúng nét người viết muốn ta để ý.
Bàn tay làm nên tất cả
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
Trong bài thơ Bài ca vỡ đất, Hoàng Trung Thông dùng “bàn tay” để chỉ người lao động. Đây là kiểu bộ phận thay toàn thể. Chọn bàn tay chứ không chọn khuôn mặt hay đôi mắt là có ý: bàn tay là bộ phận trực tiếp cuốc đất, gieo hạt, nên câu thơ vừa nói về con người vừa đề cao sức lao động của họ.
Trái đất nặng ân tình
Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Tố Hữu lấy “trái đất”, nơi chứa con người, để chỉ nhân loại (vật chứa thay vật bị chứa), cho câu thơ một tầm rộng: cả loài người cùng nhớ.
Áo chàm trong buổi chia tay
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Ví dụ quen thuộc nhất khi học Việt Bắc ở lớp 12. Áo nhuộm chàm là trang phục thường ngày của đồng bào miền núi phía Bắc, nên “áo chàm” thay cho người Việt Bắc tiễn cán bộ về xuôi. Kiểu dấu hiệu thay sự vật này giúp câu thơ hiện ra một màu áo giản dị, mộc mạc, đúng với tấm lòng thủy chung của người ở lại.
Truyện Kiều dùng cùng kiểu ấy khi Nguyễn Du than cho thân phận người con gái: “Đầu xanh đã tội tình chi? / Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.” Đầu xanh (tóc còn đen) là dấu hiệu của tuổi trẻ, má hồng là dấu hiệu của người phụ nữ đẹp. Hai dấu hiệu đặt cạnh nhau làm nỗi oan khuất của Kiều thêm xót xa.
Một cây, ba cây
Câu ca dao “Một cây làm chẳng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” dùng con số cụ thể để nói một điều trừu tượng: đơn lẻ thì yếu, đoàn kết thì mạnh. Câu này được giải nghĩa kĩ cùng nhiều câu khác trong tuyển ca dao nói về tinh thần đoàn kết. Lời Hồ Chí Minh “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” cũng thuộc kiểu này: “mười năm”, “trăm năm” không phải mốc thời gian chính xác mà chỉ cái trước mắt và cái lâu dài.
Bảng so hoán dụ với ẩn dụ
Đặt hai phép cạnh nhau theo những tiêu chí hay gặp trong đề. Ôn kĩ phép kia ở bài ẩn dụ và cách nhận diện.
| Tiêu chí | Hoán dụ | Ẩn dụ |
|---|---|---|
| A và B liên hệ bằng | Sự gần gũi có thật: nằm trong nhau, đi kèm nhau | Sự giống nhau do người nói liên tưởng |
| Câu hỏi kiểm tra | B thường đi cùng A như thế nào? | B giống A ở điểm nào? |
| Số kiểu (theo sách cũ) | 4 kiểu, dựa trên bốn loại gần gũi | 4: hình thức, cách thức, phẩm chất, chuyển đổi cảm giác |
| Ví dụ | “Cả lớp cười ồ” (lớp → học sinh) | “Lớp trưởng là cây cổ thụ của lớp” (cổ thụ → người vững vàng) |
| Tác dụng nổi bật | Nhấn một đặc điểm tiêu biểu, nói ngắn mà đủ | Gợi hình ảnh mới lạ, kín đáo |
Cả hai đều nằm trong nhóm phép chuyển nghĩa, cạnh so sánh, nhân hóa, điệp ngữ trong bảng các biện pháp tu từ. Một hình ảnh có thể là ẩn dụ ở câu này và hoán dụ ở câu khác, nên luôn xét trong ngữ cảnh.
Luyện nhận diện hoán dụ: 5 câu có lời giải
Câu 1: Trong câu tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, từ nào được dùng theo lối hoán dụ?
Đáp án: “Tàu” là chuồng ngựa, nhưng ở đây chỉ những con ngựa trong chuồng. Đây là kiểu lấy vật chứa gọi vật bị chứa. Cả câu lại là ẩn dụ về tình thương trong một tập thể: hai phép có thể lồng vào nhau.
Câu 2: Xếp mỗi câu sau vào đúng kiểu hoán dụ: (a) “Cả khu phố thức trắng xem bóng đá”; (b) “Đội bóng đang thiếu một chân sút”; (c) “Áo xanh tình nguyện có mặt khắp bến xe”; (d) “Bạn ấy có một cái đầu lạnh”.
Đáp án: (a) vật chứa gọi vật bị chứa: khu phố chỉ người sống trong đó. (b) bộ phận gọi toàn thể: “chân sút” chỉ cầu thủ ghi bàn. (c) dấu hiệu gọi sự vật: màu áo đội tình nguyện chỉ các bạn sinh viên. (d) cụ thể gọi trừu tượng: “cái đầu lạnh” chỉ sự bình tĩnh.
Câu 3: Tìm và gọi tên kiểu hoán dụ trong hai câu thơ của Nguyễn Bính: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Một người chín nhớ mười mong một người”.
Đáp án: “Thôn Đoài”, “thôn Đông” chỉ hai con người ở hai xóm, kiểu vật chứa gọi vật bị chứa. Nhờ cách nói này, nỗi tương tư như lan ra cả không gian làng quê. Dòng sau có “chín nhớ mười mong”: con số cụ thể chỉ nỗi nhớ nhiều không đếm được, gần với kiểu cụ thể gọi trừu tượng.
Câu 4: Câu nào dùng hoán dụ, câu nào dùng ẩn dụ: (a) “Cả trường đứng dậy vỗ tay”; (b) “Em là cây xương rồng giữa nắng”; (c) “Ban nhạc vừa có thêm một tay guitar”?
Đáp án: (a) hoán dụ, trường chỉ thầy cô và học sinh trong trường. (b) ẩn dụ, người được ví với xương rồng vì cùng bền bỉ chịu đựng, đây là quan hệ giống nhau. (c) hoán dụ, “tay guitar” là bộ phận thay cho người chơi đàn.
Câu 5: Viết một câu về ngày khai giảng có dùng hoán dụ và chỉ ra kiểu hoán dụ đó.
Đáp án tham khảo: “Sáng mùng 5 tháng 9, cả con đường rực một màu khăn quàng đỏ.” “Màu khăn quàng đỏ” chỉ các bạn đội viên, là kiểu lấy dấu hiệu gọi sự vật.
Học sinh hay hỏi gì khi gặp hoán dụ?
Biện pháp hoán dụ là gì và học ở lớp mấy?
Biện pháp hoán dụ là gọi tên đối tượng bằng tên một thứ gắn liền với nó. Bộ Kết nối tri thức dạy ở Bài 4 lớp 6; các lớp sau gặp lại trong câu hỏi đọc hiểu.
Có mấy kiểu hoán dụ, sách mới có bắt nhớ tên kiểu không?
Tài liệu ôn tập thường chia bốn kiểu như bảng ở trên. Sách mới chú trọng nhận ra hoán dụ và nêu tác dụng; gọi được tên kiểu là điểm cộng giúp bài làm chắc chắn hơn.
Ví dụ hoán dụ nào dễ nhớ nhất để đi thi?
“Áo chàm đưa buổi phân li” cho kiểu dấu hiệu, “Bàn tay ta làm nên tất cả” cho kiểu bộ phận, “Một cây làm chẳng nên non” cho kiểu cụ thể – trừu tượng, và “Cả làng ra đón” cho kiểu vật chứa.
“Nhắm mắt xuôi tay” là hoán dụ hay nói giảm nói tránh?
Cả hai. Nhắm mắt, xuôi tay là những dấu hiệu bên ngoài của người vừa mất, dùng để chỉ cái chết, nên đó là hoán dụ. Đồng thời cách nói này làm nhẹ đi sự đau buồn, tức cũng là nói giảm nói tránh. Một câu văn hoàn toàn có thể chứa nhiều biện pháp cùng lúc.