Trung nông là người nông dân có đủ ruộng đất, trâu bò, nông cụ để tự mình làm lụng mà sống, không phải đi làm thuê và cũng không thuê người làm cho mình. Đây là một từ cũ, dùng trong cách chia các tầng lớp ở nông thôn trước đây, đứng giữa bần nông và phú nông. Hiện nay người ta vẫn gặp lại nó khi điền mục thành phần gia đình trên giấy tờ lý lịch.
| Nghĩa | Nông dân tự túc được bằng ruộng đất, sức kéo, công cụ của mình; mức sống trung bình |
| Gốc từ | Hán Việt 中農: trung (giữa) + nông (nghề làm ruộng, người làm ruộng) |
| Loại từ | Danh từ, thuộc lớp từ cũ |
| Tiếng Anh | Middle peasant |

Trung nông: người làm ruộng ở giữa
Chữ “trung” đã nói gần hết nghĩa của từ. Trung nông là người ở khúc giữa của làng quê xưa: không nghèo đến mức phải bán sức cho nhà khác, cũng không giàu đến mức thuê người cày cấy cho mình. Cả nhà cùng ra đồng, có con trâu riêng, có cái cày riêng, đủ ăn trong năm bình thường.
Các từ điển tiếng Việt xếp trung nông vào lớp từ cũ, giải thích là nông dân có đủ ruộng đất, trâu bò, công cụ để tự lao động sinh sống dưới chế độ cũ, phân biệt với phú nông và bần nông. Hai ví dụ đi kèm mục từ cho thấy từ này hay đứng sau những chữ nào: xuất thân từ gia đình trung nông, thành phần trung nông.
Đời sống của tầng lớp này cũng “trung bình” theo đúng nghĩa đen. Năm được mùa thì đủ ăn, có dư chút ít; năm mất mùa, lụt lội thì chật vật như ai. Điểm làm nên ranh giới với các tầng lớp bên cạnh là quan hệ thuê mướn: trung nông tự làm trên ruộng của mình, không đi làm thuê và không thuê người.
Cố nông, bần nông, trung nông, phú nông, địa chủ
Trung nông chỉ dễ hiểu khi đặt vào cả chiếc thang. Thứ tự dưới đây đi từ ít ruộng đến nhiều ruộng:
| Tầng lớp | Ruộng đất, công cụ | Cách sống |
|---|---|---|
| Cố nông | Không có hoặc gần như không có | Sống bằng làm thuê, ở mướn |
| Bần nông | Có ít, thiếu trâu, thiếu nông cụ | Phải làm thuê thêm hoặc lĩnh canh ruộng người khác |
| Trung nông | Đủ ruộng, đủ sức kéo, đủ công cụ | Tự làm, không đi làm thuê, không thuê người |
| Phú nông | Nhiều ruộng hơn sức nhà mình làm | Tự làm một phần, thuê người làm phần còn lại |
| Địa chủ | Chiếm nhiều ruộng đất | Phần lớn không trực tiếp làm, cho thuê ruộng để thu tô |
Nhìn bảng mới thấy cái mốc để chia không phải con số ruộng cụ thể mà là ai làm cho ai. Cách nhìn ấy gắn với khái niệm quan hệ sở hữu và quan hệ lao động trong sản xuất: ai nắm tư liệu sản xuất, ai bán sức lao động. Ở thành thị cũng có cách chia tương tự, chẳng hạn khái niệm giai cấp tư sản ở thành thị.
Có hai từ hay bị đọc lẫn với trung nông. Trung lưu là tầng lớp có mức sống khá trong xã hội nói chung, không riêng gì nông thôn. Tam nông là cách gọi gộp ba vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong các văn bản chính sách, chẳng liên quan đến chuyện phân tầng lớp.
Ở bậc trên cùng là tầng lớp địa chủ, gắn với lối phát canh thu tô, khác hẳn người tá điền đi lĩnh ruộng.
Chữ 中農 và mục thành phần gia đình
Trung nông là từ Hán Việt, viết 中農. Trung 中 là ở giữa, như trong trung bình, trung tâm, trung học. Nông 農 là nghề làm ruộng và người làm ruộng, có trong nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Các từ cùng khuôn cũng ghép theo lối ấy: bần nông (bần là nghèo), phú nông (phú là giàu), cố nông (cố là làm thuê). Tiếng Trung có cùng chữ này, tiếng Anh dịch là middle peasant.
Ở miền Bắc, cách chia thành phần như trên được áp dụng trong thời cải cách ruộng đất những năm 1950. Từ đó các chữ trung nông, bần nông đi vào giấy tờ. Khi viết sơ yếu lý lịch, nhiều người vẫn được hướng dẫn ghi “thành phần gia đình” theo cách xếp loại của ông bà, cha mẹ thời ấy, nên người trẻ hay phải hỏi lại trung nông là gì.
Ngoài giấy tờ, từ này còn sống trong văn chương viết về làng quê miền Bắc giữa thế kỉ trước. Gặp câu “nhà ấy thuộc diện trung nông” trong truyện, người đọc có thể hình dung ngay một gia đình đủ ăn, tự làm tự sống, không ở đầu cũng không ở cuối làng.
Trung nông trong lý lịch và trang sách
Thành phần gia đình trung nông là gì?
Là gia đình trước đây được xếp vào tầng lớp trung nông: có đủ ruộng đất, trâu bò, công cụ để tự canh tác, không đi làm thuê và không thuê người. Mục này nay vẫn có trong một số mẫu sơ yếu lý lịch, ghi theo thành phần của gia đình từ thời trước.
Trung nông khác phú nông thế nào?
Khác ở chỗ có thuê người hay không. Trung nông tự làm trên ruộng của mình; phú nông có nhiều ruộng hơn sức nhà làm nên thuê thêm nhân công cho phần còn lại.
Trung nông khác bần nông ra sao?
Bần nông thiếu ruộng, thiếu trâu, thiếu nông cụ nên phải làm thuê hoặc thuê ruộng người khác mới đủ sống. Trung nông thì đủ tư liệu để tự làm.
Ngày nay còn dùng từ trung nông không?
Rất ít, chủ yếu trong sách lịch sử, văn học và mục thành phần gia đình của lý lịch. Trong đời sống, người ta thường nói nông dân, hộ nông dân hoặc nói theo mức thu nhập.