Quan hệ sản xuất là cách con người ràng buộc với nhau khi cùng làm ra của cải: máy móc, đất đai thuộc về ai, ai điều hành công việc, thành quả chia cho ai và chia theo lệ nào. Đây là khái niệm của triết học Mác – Lênin, học sinh, sinh viên thường gặp cùng cặp “lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất”. Nói về quan hệ sản xuất gồm những gì, sách vở luôn nêu ba mặt.
| Nghĩa ngắn | Quan hệ kinh tế giữa người với người trong sản xuất vật chất |
| Thuộc | Chủ nghĩa duy vật lịch sử (triết học Mác – Lênin) |
| Gồm | Sở hữu tư liệu sản xuất; tổ chức, quản lí; phân phối sản phẩm |
| Tiếng Anh | relations of production (tiếng Đức: Produktionsverhältnisse) |

Quan hệ sản xuất qua một xưởng may
Thử hình dung một xưởng may có hai mươi chiếc máy. Đứng trước xưởng ấy, có ba câu hỏi lập tức hiện ra, và mỗi câu ứng với một mặt của quan hệ sản xuất.
Máy móc, nhà xưởng, vải vóc là của ai? Đây là mặt sở hữu, xét xem tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Có thể một ông chủ bỏ vốn mua tất cả, có thể là hợp tác xã do chính thợ may góp tiền, cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước.
Ai phân việc, ai đặt giờ giấc, ai quyết định may mẫu nào? Đây là mặt tổ chức và điều hành. Người quản đốc, tổ trưởng, công nhân đứng ở những vị trí khác nhau trong cùng một dây chuyền.
Bán được hàng rồi, tiền chia thế nào? Đây là mặt phân phối thành quả lao động: bao nhiêu thành tiền lương, bao nhiêu thành lợi nhuận, bao nhiêu để mua máy mới.
Câu hỏi thứ nhất có sức nặng nhất. Ai sở hữu xưởng thì thường cũng là người nắm quyền tổ chức và có tiếng nói lớn trong chuyện chia phần. Vì vậy giáo trình coi quan hệ sở hữu là mặt giữ vai trò quyết định, hai mặt kia chịu sự chi phối của nó nhưng cũng tác động ngược lại.
Khái niệm quan hệ sản xuất trong học thuyết của Mác
Mác và Ăng-ghen dùng khái niệm này trong học thuyết duy vật lịch sử. Theo đó, muốn sống, con người phải sản xuất; mà muốn sản xuất thì không ai làm một mình được, họ buộc phải liên kết với nhau theo những cách nhất định. Các mối liên kết ấy chính là quan hệ sản xuất.
Có hai điểm đáng chú ý. Một là các quan hệ này mang tính vật chất, khách quan: người ta bước vào chúng không hoàn toàn theo ý muốn, vì sinh ra đã gặp sẵn một cách tổ chức kinh tế nào đó. Hai là chúng khác với quan hệ tình cảm, họ hàng hay bạn bè. Hai người có thể là anh em ruột, nhưng trong xưởng may, một người là chủ, một người làm thuê, thì quan hệ sản xuất giữa họ là quan hệ chủ và thợ.
Lịch sử cũng cho thấy những kiểu quan hệ sản xuất khác nhau: giữa chủ nô và nô lệ, giữa địa chủ hay lãnh chúa với nông dân lĩnh canh, nông nô, giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê. Mỗi kiểu gắn với một cách sở hữu tư liệu sản xuất riêng.
Vì sao quan hệ sản xuất thay đổi theo thời gian?
Câu trả lời nằm ở cặp khái niệm đi kèm: lực lượng sản xuất, gồm người lao động cùng kĩ năng của họ và tư liệu sản xuất, nhất là công cụ. Theo học thuyết Mác, lực lượng sản xuất là phía quyết định. Khi công cụ thay đổi, từ cái cày sang máy hơi nước, từ máy dệt tay sang dây chuyền tự động, cách con người tổ chức, sở hữu và chia phần cũng phải đổi theo cho phù hợp.
Chiều ngược lại cũng có. Quan hệ sản xuất phù hợp thì thúc đẩy sản xuất: người lao động thấy công sức được trả xứng đáng thì hăng hái làm. Quan hệ sản xuất đã lạc hậu, hoặc áp đặt vượt quá trình độ thực tế, thì kìm hãm sản xuất. Khoảng cách giữa hai phía ấy được gọi là mâu thuẫn theo nghĩa triết học, và theo Mác, đó là động lực khiến xã hội chuyển từ hình thái này sang hình thái khác.
Đây cũng là nội dung của quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”, phần hay ra đề trong các kì kiểm tra môn triết học ở đại học.
Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, phương thức sản xuất
| Lực lượng sản xuất | Quan hệ sản xuất | Phương thức sản xuất | |
|---|---|---|---|
| Là gì | Quan hệ giữa con người với tự nhiên | Quan hệ giữa người với người | Sự thống nhất của hai mặt bên trái |
| Gồm | Người lao động, công cụ, đối tượng lao động | Sở hữu; điều hành; chia thành quả | Cách một xã hội làm ra của cải ở một giai đoạn |
| Ví dụ ở xưởng may | Hai mươi máy may và tay nghề của thợ | Ai là chủ, ai quản lí, lương chia ra sao | Toàn bộ cách xưởng vận hành |
Mẹo nhớ: lực lượng sản xuất trả lời câu “làm bằng gì, ai làm”, còn quan hệ sản xuất trả lời câu “làm với nhau ra sao, chia nhau thế nào”. Những khái niệm nền khác của môn học có thể xem thêm ở bài giải nghĩa triết học và các nhánh của nó.
Mấy điều cần nhớ khi ôn quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất gồm mấy mặt?
Ba mặt, gói trong ba câu hỏi: tư liệu sản xuất thuộc về ai (sở hữu), ai điều hành công việc (tổ chức, quản lí), thành quả chia ra sao (phân phối). Mặt sở hữu giữ vai trò quyết định.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có quan hệ thế nào?
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất; quan hệ sản xuất tác động trở lại, phù hợp thì thúc đẩy, không phù hợp thì kìm hãm. Hai mặt hợp lại thành phương thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất tiếng Anh là gì?
Là relations of production, dịch từ thuật ngữ tiếng Đức Produktionsverhältnisse trong các tác phẩm của Mác. Lực lượng sản xuất là productive forces.
Ví dụ về quan hệ sản xuất trong đời sống?
Một quán cà phê có chủ quán bỏ vốn, quản lí ca làm và nhân viên phục vụ nhận lương theo giờ. Ai sở hữu quán, ai xếp ca, tiền bán hàng chia thành lương và lãi ra sao, cả ba điều đó hợp lại là quan hệ sản xuất của quán.