Giọng điệu là thái độ và tình cảm của người viết (hoặc người kể chuyện, nhân vật trữ tình) đối với điều mình nói tới, được người đọc “nghe” ra qua cách xưng hô, cách chọn chữ, nhịp câu. Ngoài đời, ta nhận ra người đối diện đang vui hay đang mỉa mai nhờ giọng nói; trong văn học, giọng điệu là thứ “giọng nói” nằm trên trang giấy.
| Nghĩa thường | Cách nói thể hiện thái độ, tình cảm (giọng điệu ôn tồn, giọng điệu kẻ cả) |
| Nghĩa trong văn học | Thái độ, cảm xúc của chủ thể lời văn với đối tượng, thể hiện qua ngôn từ |
| Thuộc | Hình thức nghệ thuật của tác phẩm, gắn chặt với phong cách nhà văn |
| Dấu hiệu nhận biết | Xưng hô, từ ngữ đánh giá, kiểu câu, nhịp điệu, chi tiết được chọn kể |
| Hay gặp ở | Câu hỏi đọc hiểu “xác định giọng điệu của đoạn trích”, bài nghị luận văn học |

Giọng điệu là gì khi rời khỏi giọng nói?
Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, giọng điệu chỉ cách một người nói: “nói bằng giọng điệu ra lệnh”, “cái giọng điệu ấy nghe chẳng lọt tai”. Ta nghe thấy độ cao, độ nhanh, nhưng điều ta thực sự bắt được là thái độ phía sau.
Sang văn học, trang giấy không có âm thanh, vậy mà người đọc vẫn biết một đoạn văn đang thương xót hay đang giễu cợt. Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi coi giọng điệu là sự thể hiện thái độ, tình cảm, lập trường của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, và cái thái độ ấy chi phối “cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm” trong lời văn. Nói cách khác, giọng điệu không nằm ở một câu riêng lẻ mà toát ra từ cách tổ chức cả lời văn.
Các công trình nghiên cứu còn nhấn thêm hai điểm. Thứ nhất, giọng điệu là dấu vân tay của nhà văn: tác giả có tài thường có một giọng riêng, đọc vài dòng đã đoán được ai viết. Thứ hai, trong truyện, giọng điệu trần thuật chính là giọng của người kể chuyện, cho biết người kể đứng gần hay xa, tán thành hay phản đối điều mình kể. Cần tách giọng điệu khỏi ngữ điệu lên xuống khi nói: ngữ điệu là chuyện âm thanh của câu nói, còn giọng điệu là chuyện thái độ của cả văn bản.
Nghe giọng Nguyễn Khuyến, Nam Cao và thơ trào phúng
Giọng hóm hỉnh trong Bạn đến chơi nhà
Bài thơ mở bằng lời chào mừng bạn lâu ngày mới tới, rồi lần lượt “kể khổ”: trẻ đi vắng, chợ thì xa, cá ao sâu khó bắt, gà vườn rộng khó đuổi, cải chưa ra cây, cà mới nụ, đến miếng trầu cũng không có. Một bài thơ toàn chuyện thiếu mà không hề buồn, vì giọng kể là giọng đùa vui, tự trào, như người chủ nhà đang nháy mắt với bạn. Đến câu kết, giọng chuyển hẳn sang ấm áp:
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Nhờ bảy câu trước hóm hỉnh, câu cuối mới nặng tình: không có gì để đãi, chỉ có hai tấm lòng. Nếu đọc bằng giọng than nghèo, bài thơ sẽ mất hẳn ý nghĩa. Phần đọc hiểu đầy đủ có ở bài soạn Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.
Giọng trầm, đầy suy ngẫm của người kể trong Lão Hạc
Truyện được kể qua ông giáo, người hàng xóm của lão Hạc. Giọng kể của ông chậm, hay dừng lại tự vấn, đôi khi bật thành câu cảm thán “Chao ôi!” rồi nối bằng một đoạn bàn về cách nhìn người: nếu không cố tìm hiểu những người quanh mình, ta chỉ thấy cái vẻ ngoài khó chịu của họ. Giọng ấy khiến truyện ngắn có hai lớp: lớp câu chuyện về lão Hạc và lớp suy nghĩ của một trí thức nghèo về lòng tốt. Học sinh lớp 9 ôn kĩ phần này khi đọc phần soạn Lão Hạc trong sách Kết nối.
Ba cung bậc của tiếng cười trào phúng
Ở Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, văn bản nghị luận “Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng” chia tiếng cười thành nhiều giọng, từ hài hước nhẹ nhàng đến châm biếm sâu cay và đả kích gay gắt. Cùng là cười, nhưng mỗi giọng cho biết người viết muốn trêu, muốn phê phán, hay muốn lật mặt đối tượng. Bài giải nghĩa trào phúng và các cung bậc tiếng cười có bảng so sánh chi tiết.
Năm chỗ để nghe ra giọng điệu
- Cách xưng hô, gọi tên. Gọi nhân vật là “hắn”, “y”, “lão”, “anh”, “chị” đã là một thái độ. Gọi bạn là “bác” như Nguyễn Khuyến là thân tình mà vẫn kính trọng.
- Từ ngữ đánh giá. Tính từ, trạng từ, từ láy cho thấy người viết đứng về phía nào: “lom khom” khác “còng queo”, “hiền lành” khác “khù khờ”.
- Kiểu câu. Câu cảm thán, câu hỏi tu từ, lời gọi đáp thường làm giọng điệu nổi lên rõ nhất. Câu trần thuật ngắn, khô lại tạo giọng khách quan, lạnh.
- Nhịp điệu. Câu dài, nhiều vế, nhịp chậm thường đi với giọng trữ tình, suy tư; câu ngắn dồn dập hợp với giọng hào hùng hoặc gấp gáp.
- Chi tiết được chọn. Người viết châm biếm thường chọn chi tiết lố bịch, người viết xót thương chọn chi tiết nhỏ, tội nghiệp.
Khi trả lời câu hỏi “xác định giọng điệu”, hãy gọi tên bằng một hoặc hai tính từ (tha thiết, mỉa mai, trang nghiêm…), rồi chỉ ra ít nhất một căn cứ trong văn bản. Chỉ nêu tính từ mà không có dẫn chứng thường bị trừ điểm.
Bảng các giọng điệu hay gặp trong đề đọc hiểu
| Giọng điệu | Dấu hiệu thường thấy | Hay gặp ở |
|---|---|---|
| Tha thiết, trìu mến | Lời gọi, từ xưng hô thân mật, điệp ngữ | Thơ về mẹ, quê hương, tình yêu |
| Hào hùng, trang trọng | Từ Hán Việt, câu dài cân đối, hình ảnh lớn lao | Văn chính luận trung đại, thơ viết về chiến tranh |
| Trầm buồn, xót xa | Từ láy gợi buồn, nhịp chậm, câu cảm thán | Thơ tả cảnh chiều, truyện về số phận người nghèo |
| Hóm hỉnh, hài hước | Cách nói ngược, phóng đại, tự trào | Thơ Nguyễn Khuyến, ca dao hài hước |
| Châm biếm, mỉa mai | Khen mà thực ra chê, chơi chữ, chi tiết lố bịch | Thơ trào phúng, truyện cười |
| Triết lí, suy ngẫm | Câu khái quát, câu hỏi tu từ, từ ngữ trừu tượng | Tùy bút, truyện có người kể là trí thức |
| Khách quan, lạnh | Câu ngắn, ít từ cảm xúc, kể như ghi biên bản | Một số truyện ngắn hiện đại |
Một tác phẩm hiếm khi giữ một giọng từ đầu đến cuối. Bạn đến chơi nhà đi từ đùa vui sang xúc động; nhiều truyện ngắn đan giọng khách quan với những câu bình luận đầy cảm thông. Vì vậy đề hay hỏi “giọng điệu chủ đạo”, tức giọng bao trùm phần lớn văn bản.
Bốn câu luyện nhận diện giọng điệu
Câu 1: Câu ca dao “Làm trai cho đáng nên trai / Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” mang giọng điệu gì?
Đáp án: Giọng khẳng định, hào sảng. Điệp từ “trai”, cặp hướng “đông – đoài” đối nhau và nhịp câu chắc nịch cho thấy niềm tin vào chí làm trai có thể dẹp yên bốn phương. Không có chữ nào than thở hay đùa cợt, nên không thể xếp vào giọng buồn hay giọng hài hước.
Câu 2: Vì sao không thể đọc Bạn đến chơi nhà bằng giọng than thở?
Đáp án: Vì cái thiếu thốn trong bài được kể bằng giọng đùa vui, tự trào. Nếu đọc như lời than nghèo, câu kết “ta với ta” sẽ thành lời ngậm ngùi, mất đi niềm vui của tình bạn vượt lên vật chất, vốn là ý chính của bài thơ.
Câu 3: Chỉ ra hai căn cứ cho thấy giọng điệu trầm, suy ngẫm của người kể trong Lão Hạc.
Đáp án: Một là các câu cảm thán, tự vấn như “Chao ôi!” chen giữa lời kể. Hai là những đoạn người kể dừng câu chuyện để bàn về cách nhìn người, về cái đáng buồn của cuộc đời. Cả hai cho thấy người kể không chỉ thuật lại mà còn nghiền ngẫm về điều mình kể.
Câu 4: Viết hai câu văn tả cơn mưa, một câu giọng vui tươi và một câu giọng buồn.
Đáp án tham khảo: Vui tươi: “Mưa rào rào đổ xuống, lũ trẻ trong xóm ùa ra sân, hò reo như được ai phát quà.” Buồn: “Mưa cứ rả rích suốt buổi chiều, mái hiên nhỏ giọt từng giọt chậm như đếm thời gian.” Hai câu khác nhau ở từ láy (rào rào/rả rích), ở chi tiết (lũ trẻ reo/mái hiên nhỏ giọt) và ở nhịp câu.
Giọng điệu, ngữ điệu và chất giọng riêng
Giọng điệu trong văn học là gì, nói ngắn cho học sinh lớp 8?
Đó là thái độ, tình cảm của người viết với điều được nói tới, đọc ra được qua cách dùng từ, xưng hô và đặt câu. Muốn nhớ nhanh, hãy coi giọng điệu là “nét mặt” của văn bản.
Giọng điệu là gì trong thơ?
Trong thơ, giọng điệu là giọng của nhân vật trữ tình: tha thiết, bâng khuâng, sôi nổi hay ngậm ngùi. Nó gắn với nhịp thơ, vần, cách ngắt dòng, nên đọc thành tiếng là cách dễ nhất để cảm được giọng của một bài thơ.
Giọng điệu tiếng Anh là gì?
Thường dịch là tone (thái độ toát ra từ văn bản). Khi bàn về người kể chuyện, sách lí luận còn dùng voice (giọng kể). Hai từ có phần chồng lên nhau, tùy ngữ cảnh mà chọn.
Một nhà văn có giọng điệu riêng nghĩa là gì?
Nghĩa là qua nhiều tác phẩm, người đọc nhận ra một cách nói quen thuộc của họ, khó lẫn với người khác. Đó là một biểu hiện rõ của phong cách nghệ thuật.
Một lưu ý nhỏ khi làm bài: đừng viết “giọng điệu của bài thơ là giọng điệu buồn”. Viết “giọng thơ buồn thương, da diết, thể hiện qua…” vừa gọn vừa cho thấy em đã nghe được giọng ấy thật.