Cái tôi là ý thức của mỗi người về chính mình: mình là ai, mình có giá trị gì, mình khác người khác ở đâu. Trong đời thường, chữ này hay đi với lời nhận xét như “cái tôi cao”, “cái tôi quá lớn”. Trong tâm lý học, nó là bản dịch của ego; còn trong môn Ngữ văn, học sinh gặp nó qua khái niệm cái tôi trữ tình và chữ “tôi” của phong trào Thơ mới.
| Nghĩa đời thường | Ý thức về bản thân, về giá trị và cá tính riêng của mình |
| Nghĩa thuật ngữ | Tâm lý học: ego; văn học: chủ thể bộc lộ cảm xúc trong thơ (cái tôi trữ tình) |
| Loại từ | Danh từ (cụm danh từ: “cái” + đại từ “tôi”) |
| Sắc thái | Trung tính khi nói “cái tôi riêng”; thường là chê khi nói “cái tôi cao”, “cái tôi quá lớn” |

Từ đại từ “tôi” đến danh từ “cái tôi”
Bình thường “tôi” chỉ là đại từ để xưng hô. Thêm chữ “cái” vào trước, người ta biến nó thành một danh từ, một thứ có thể đem ra ngắm nghía, khen chê: cái tôi của anh ấy, giữ cái tôi, hạ cái tôi xuống. Wiktionary tiếng Việt giải thích cái tôi là sự tự nhận thức của một người về tư cách, nhân phẩm, giá trị của mình để phân biệt mình với thế giới và với người khác.
Đứa trẻ khoảng hai, ba tuổi bắt đầu nói “của con!”, “con tự làm!”: đó là lúc cái tôi lộ diện. Lớn lên, cái tôi thành cá tính, sở thích, chính kiến. Có cái tôi là chuyện bình thường; người hoàn toàn không có chính kiến mới đáng lo.
Ở bình diện học thuật, chữ ego gắn với lí thuyết phân tâm học của Freud. Ông viết bằng tiếng Đức das Ich, nghĩa đen là “cái tôi”; bản dịch tiếng Anh đổi thành “ego”. Theo mô hình này, cái tôi đứng giữa những đòi hỏi bản năng và các chuẩn mực đạo đức, tìm cách dung hòa chúng với thực tế, giống người cưỡi ngựa phải điều khiển một con vật khỏe hơn mình. Các trường phái triết học thì đặt câu hỏi “tôi là ai” từ hàng nghìn năm trước; muốn đi theo hướng đó, có thể bắt đầu từ những câu hỏi cơ bản của triết học.
“Cái tôi cao” là khen hay chê?
Phần lớn là chê. Nói ai “cái tôi cao” là nói người đó coi mình là trên hết: khó nhận mình sai, không chịu nghe góp ý, dễ tự ái khi bị phê bình, muốn mọi việc theo ý mình. “Cái tôi quá lớn”, “cái tôi to đùng” cũng mang ý như vậy.
- Trong nhóm làm bài tập: “Bạn ấy giỏi thật, nhưng cái tôi cao quá, ai góp ý là giận.”
- Lời khuyên giữa bạn bè: “Thôi, hạ cái tôi xuống mà xin lỗi nó một câu.”
- Ý khen hiếm hơn: “Nghệ sĩ cần có cái tôi riêng, không thì tác phẩm nhạt.”
Câu thứ ba cho thấy chữ “cái tôi” tự nó không xấu. Cái xấu nằm ở chữ “cao”, “quá lớn”: khi ý thức về mình lấn át sự tôn trọng người khác.
Cái tôi trữ tình và chữ “tôi” trong Thơ mới
Khi học thơ, các em sẽ gặp cái tôi trữ tình: người đang cất lời, bộc lộ cảm xúc trong bài thơ. Cái tôi trữ tình có thể gần với chính nhà thơ, nhưng không trùng khít; nhà thơ có thể “nhập vai” người khác để nói. Khi đề bài hỏi “cảm xúc của cái tôi trữ tình”, ta phân tích con người hiện ra trong văn bản, không kể tiểu sử tác giả.
Chữ “tôi” có một lịch sử đáng nhớ trong văn học Việt Nam. Thơ trung đại thiên về cái “ta” chung, ít khi phô bày cảm xúc riêng tư. Phong trào Thơ mới (khoảng 1932–1945) đổi hẳn điều đó: các nhà thơ trẻ xưng “tôi”, nói thẳng nỗi buồn, niềm vui, khao khát của riêng mình. Bài Vội vàng của Xuân Diệu là ví dụ tiêu biểu cho cái tôi ham sống ấy.
Hoài Thanh, trong tiểu luận mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam (1942), cho rằng tinh thần thơ cũ và thơ mới có thể gói trong hai chữ “ta” và “tôi”. Ông tả sự xuất hiện của “chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó” như một điều mới lạ, lúc đầu khiến nhiều người khó chịu. Đọc trọn lập luận ở bài tìm hiểu tiểu luận Một thời đại trong thi ca.
Cái tôi, bản ngã, lòng tự trọng khác nhau thế nào?
| Khái niệm | Nghĩa gọn | Sắc thái thường gặp |
|---|---|---|
| Cái tôi | Ý thức về bản thân, cá tính riêng | Trung tính; “cái tôi cao” là chê |
| Bản ngã | Từ Hán Việt (本我), “cái ta gốc”; hay dùng trong triết học, Phật học, tâm lý học | Trang trọng, học thuật; trong lời khuyên đạo đức thường gắn với ý “buông bỏ bản ngã” |
| Lòng tự trọng | Biết coi trọng phẩm giá của mình, không làm điều hèn kém | Khen |
| Tự ái | Dễ phật lòng khi thấy mình bị coi thường | Chê nhẹ |
| Tự cao, tự phụ | Đánh giá mình quá cao, xem thường người khác | Chê |
Lòng tự trọng và cái tôi cao dễ bị đánh đồng, nhưng hướng ngược nhau. Người tự trọng giữ mình để không làm điều sai; người cái tôi cao giữ thể diện để không phải nhận sai. Với cặp chữ dễ nhầm khác, xem tự tôn và tự trọng khác nhau ra sao. Từ trái nghĩa gần nhất với cái tôi là cái ta, tập thể, cộng đồng; còn trái với “cái tôi cao” là khiêm tốn, biết lắng nghe.
Cái tôi và bản ngã chỉ gần nghĩa với bản thân; các từ thay được thật như chính mình, tự thân được so ở đồng nghĩa, trái nghĩa với bản thân.
Gợi ý nghị luận: cái tôi và cái ta
Đề “Suy nghĩ về mối quan hệ giữa cái tôi và cái ta” hay xuất hiện ở lớp 11, 12. Có thể dựng bài theo ba ý:
- Cái tôi là quyền và cũng là trách nhiệm. Có cái tôi, con người mới dám nghĩ khác, dám sáng tạo, dám chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Thơ mới là dẫn chứng văn học rõ nhất cho sức sống của cái tôi cá nhân.
- Cái tôi đặt trên tất cả sẽ thành ích kỉ. Khi chỉ nghĩ đến mình, cái tôi biến thành cái tôi cao: không hợp tác được, dễ làm tổn thương người khác.
- Hòa cái tôi vào cái ta mà không đánh mất mình. Bài Từ ấy của Tố Hữu là ví dụ một cái tôi tự nguyện gắn bó với mọi người. Người trẻ giữ cá tính, nhưng biết đặt lợi ích chung lên đúng chỗ.
Dàn ý chung của kiểu bài này và nhiều bài mẫu có ở tuyển văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí.
Giải đáp nhanh quanh chữ “cái tôi”
Cái tôi cao là gì?
Là cách nói chê một người quá coi trọng bản thân: luôn cho mình đúng, khó nghe góp ý, dễ tự ái. Nó khác lòng tự trọng, vốn là phẩm chất đáng quý.
Cái tôi trữ tình là gì?
Là chủ thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong một bài thơ trữ tình, thường xưng “tôi”, “ta”, “anh”, “em”. Cái tôi trữ tình có thể gần với nhà thơ nhưng là hình tượng trong văn bản.
Cái tôi trong tiếng Anh là gì?
Thường dịch là ego hoặc self. “Ego” mang màu tâm lý học và hay dùng khi nói ai đó tự cao (big ego); “self” thiên về con người bản thân nói chung.
Có nên bỏ hẳn cái tôi đi không?
Không cần và cũng không thể. Điều nên làm là giữ cái tôi vừa đủ: tự tin vào mình, đồng thời biết lắng nghe và nhận sai khi cần.