Đại từ nhân xưng là những từ dùng để trỏ người nói, người nghe hoặc người, vật được nhắc tới mà không phải gọi tên: tôi, ta, tớ, mày, nó, hắn, họ, chúng tôi, chúng ta… Sách Tiếng Việt tiểu học gọi nhóm này là đại từ xưng hô. Trong tiếng Anh, chúng là personal pronouns: I, you, he, she, it, we, they.
| Khái niệm | Đại từ dùng để xưng hô, trỏ người hoặc vật theo vai trong cuộc giao tiếp (ngôi) |
| Thuộc | Từ loại đại từ, cùng nhóm với đại từ nghi vấn và đại từ thay thế |
| Dấu hiệu nhận biết | Xác định được ngôi (thứ nhất, hai, ba) và số (ít, nhiều); số nhiều thường tạo bằng “chúng”, “bọn” |
| Tên gọi khác | Đại từ xưng hô, đại từ chỉ ngôi |

Gốc chữ của đại từ nhân xưng
Tên gọi này là ba chữ Hán Việt ghép lại. Đại (代) là thay thế, nhân (人) là người, xưng (稱) là gọi. Đại từ nhân xưng vì thế là loại từ thay cho tên người để gọi, để tự xưng.
Trong mỗi cuộc nói chuyện luôn có ba vai. Người đang nói là ngôi thứ nhất. Người đang nghe là ngôi thứ hai. Người hay vật được nhắc tới, không tham gia cuộc nói chuyện, là ngôi thứ ba. Đại từ nhân xưng là những từ chuyên làm việc gọi tên các vai ấy. Câu “Tớ đưa cậu quyển này, nhớ trả nó giúp tớ” đủ cả ba ngôi trong một hơi.
Đây chỉ là một nhóm trong từ loại đại từ. Ngoài nó còn có đại từ dùng để hỏi (ai, gì, đâu, bao nhiêu) và đại từ thay thế (vậy, thế). Muốn xem toàn cảnh, đọc bức tranh chung về các loại đại từ.
Bảng ngôi và số của đại từ nhân xưng tiếng Việt
| Ngôi | Số ít | Số nhiều |
|---|---|---|
| Thứ nhất (người nói) | tôi, tao, tớ, mình, ta | chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình, chúng ta, ta |
| Thứ hai (người nghe) | mày, mi, ngươi | chúng mày, bọn mày, các người |
| Thứ ba (người, vật được nói tới) | nó, hắn, y, thị | họ, chúng nó, bọn họ |
Có hai cặp cần chú ý. Chúng tôi không gồm người nghe: thầy hiệu trưởng nói với phụ huynh “chúng tôi sẽ thông báo” là nói thay nhà trường. Chúng ta thì gộp cả người nghe vào: “chúng ta cùng cố gắng”. Dùng lẫn hai từ này, người nghe sẽ thấy mình bị đẩy ra ngoài hoặc bị kéo vào một việc không phải của mình.
Cặp thứ hai là mình và ta. Thường ngày mình là ngôi thứ nhất, nhưng vợ chồng gọi nhau “mình ơi” thì nó thành ngôi thứ hai; trong ca dao và bài thơ Việt Bắc, cặp mình – ta là người đi và người ở. Còn ta có lúc là số ít (“ta đi đây”), có lúc là số nhiều (“người mình, nước ta”).
Đại từ nhân xưng trong trang văn SGK
Nhận ra đại từ thì dễ; câu hỏi khó hơn luôn là: vì sao tác giả chọn đúng từ ấy?
“Ta với ta” của Nguyễn Khuyến
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Bảy câu trước, nhà thơ kể chẳng có gì đãi bạn: chợ xa, cá chưa chài được, trầu cũng không. Câu cuối dồn lại ở hai chữ ta. Cách hiểu quen thuộc là “ta” thứ nhất chỉ bác, “ta” thứ hai chỉ tôi; hai người hòa làm một, chẳng cần mâm cỗ. Đại từ ngôi thứ nhất ở đây gánh cả một quan niệm về tình bạn. Phân tích thêm có ở bài thơ ta với ta của Nguyễn Khuyến.
Chị và em trong đoạn Trao duyên
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Chị và em không phải đại từ thật mà là danh từ chỉ quan hệ ruột thịt, được mượn để xưng hô. Kiều chọn đúng vai chị em, rồi lại đảo thứ bậc khi lạy em, để thấy việc nàng sắp nhờ nặng đến mức nào. Những câu hỏi về cách xưng hô này có trong câu hỏi soạn đoạn Trao duyên.
Dế Mèn xưng “tôi”
Truyện Bài học đường đời đầu tiên của Tô Hoài để Dế Mèn tự kể, xưng “tôi” từ đầu đến cuối. Đại từ ngôi thứ nhất ấy cho người đọc nghe trực tiếp những suy nghĩ kiêu căng rồi hối hận của nhân vật. Cách đại từ quyết định giọng kể được bàn kỹ ở bài ngôi kể thứ nhất trong truyện.
Cách phân biệt đại từ thật với danh từ xưng hô
Tiếng Việt hay dùng danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, cô, chú, con, cháu. Nhiều sách gộp chúng vào khi nói về xưng hô, nhưng xét từ loại thì đó là danh từ. Ba cách thử:
- Thêm số từ phía trước. Danh từ nhận được: “hai anh”, “ba chị”, “mấy cô”. Đại từ thật thì không: không ai nói “hai tôi”, “ba nó”.
- Xem cách tạo số nhiều. Danh từ dùng “các”: các anh, các em. Đại từ thật dùng “chúng”, “bọn”: chúng tôi, bọn nó.
- Đặt vào câu không xưng hô. “Anh tôi làm kỹ sư”: chữ anh vẫn có nghĩa họ hàng. Chữ tôi thì ra khỏi cuộc nói chuyện là không còn nghĩa gì riêng.
Từ bạn cũng là danh từ, được dùng như đại từ ngôi thứ hai trong lời nói lịch sự. Còn bảng ngôi đầy đủ kèm lưu ý dùng trong giao tiếp, xem thêm ba ngôi trong giao tiếp tiếng Việt.
Họ đại từ còn một nhóm chuyên dùng để hỏi như ai, gì, đâu, bao nhiêu, danh sách đầy đủ có ở đại từ nghi vấn và từ để hỏi.
Đại từ nhân xưng tiếng Anh khác tiếng Việt ở đâu?
| Ngôi | Tiếng Anh (chủ ngữ / tân ngữ) | Tiếng Việt tương ứng |
|---|---|---|
| Thứ nhất số ít | I / me | tôi, tớ, mình, tao, em, con, cháu… |
| Thứ hai | you / you | bạn, cậu, mày, anh, chị, ông, bà… |
| Thứ ba số ít | he / him, she / her, it / it | anh ấy, cô ấy, nó, hắn… |
| Thứ nhất số nhiều | we / us | chúng tôi hoặc chúng ta |
| Thứ ba số nhiều | they / them | họ, chúng nó, các bạn ấy… |
Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh đổi hình thức theo vị trí trong câu (I thành me khi làm tân ngữ) và theo giống ở ngôi thứ ba (he, she, it). Tiếng Việt không đổi hình thức, nhưng đổi từ theo tuổi tác, quan hệ, độ thân sơ. Một chữ you phải dịch thành bạn, cậu, anh, chị hay ông tùy người nghe là ai. Ngược lại, we không phân biệt có gộp người nghe hay không, nên dịch ra tiếng Việt phải chọn giữa chúng tôi và chúng ta.
Thực hành nhận diện đại từ nhân xưng
Câu 1: Tìm đại từ nhân xưng và cho biết ngôi, số: “Tớ rủ cậu đi thư viện, nhưng họ đóng cửa sớm nên chúng mình về.”
Đáp án: tớ (ngôi thứ nhất, số ít), cậu (ngôi thứ hai, số ít; danh từ dùng như đại từ trong khẩu ngữ), họ (ngôi thứ ba, số nhiều), chúng mình (ngôi thứ nhất, số nhiều, gộp cả người nghe).
Câu 2: Trong câu “Anh ơi, anh đợi em với!”, từ “anh” và “em” là đại từ hay danh từ?
Đáp án: Đều là danh từ chỉ quan hệ, được dùng để xưng hô: anh ở ngôi thứ hai, em ở ngôi thứ nhất. Thử thêm số từ: nói được “hai anh”, nên đó là danh từ.
Câu 3: Hai bạn trực nhật xong, một bạn báo với bạn lớp trưởng: “… làm xong rồi, cậu kiểm tra nhé.” Điền “chúng tôi” hay “chúng ta”?
Đáp án: Điền chúng tôi (trong lời nói thân mật có thể thay bằng chúng tớ), vì lớp trưởng không tham gia trực nhật. “Chúng ta” sai vì gộp cả người nghe vào việc họ không làm.
Câu 4: Dịch sang tiếng Việt cho hợp vai: “I will help you” trong hai tình huống: (a) hai bạn cùng lớp, (b) cháu nói với bà.
Đáp án tham khảo: (a) “Tớ sẽ giúp cậu.” (b) “Cháu sẽ giúp bà.” Cùng một câu tiếng Anh, tiếng Việt phải đổi cả từ xưng lẫn từ gọi theo quan hệ.
Xưng tôi, gọi bạn, nhắc anh ấy: mấy điều cần nhớ
Đại từ xưng hô là gì, có phải đại từ nhân xưng không?
Là cùng một nhóm. Sách tiểu học gọi là đại từ xưng hô; nhiều sách ngữ pháp gọi là đại từ nhân xưng hay đại từ chỉ ngôi. Cả ba tên đều chỉ những từ dùng để tự xưng, gọi người nghe và nhắc người thứ ba.
Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh gồm những từ nào?
Dạng chủ ngữ có I, you, he, she, it, we, they; dạng tân ngữ tương ứng là me, you, him, her, it, us, them. Ngôi thứ hai dùng chung “you” cho cả số ít lẫn số nhiều.
Ví dụ về đại từ nhân xưng ngôi thứ ba là gì?
Trong tiếng Việt có nó, hắn, y, họ, chúng nó, ví dụ “Họ chuyển nhà từ hôm qua.” Các tổ hợp như anh ấy, cô ấy, bà ta cũng làm việc của ngôi thứ ba, chỉ là được ghép từ danh từ với từ chỉ định.
Vì sao “hắn” và “y” mang sắc thái khác “anh ấy”?
Vì đại từ tiếng Việt chở cả thái độ. “Hắn” và “y” thường lộ vẻ xa cách hoặc coi thường, nên nhà văn hay dùng cho nhân vật phản diện. Nói về người mình tôn trọng thì dùng “anh ấy”, “ông ấy”.
Riêng chữ đứng đầu bảng ngôi thứ nhất có cả một lịch sử, từ nghĩa bề tôi đến chữ tôi trong văn chương.