Thơ là thể loại văn học dùng lời văn có nhịp điệu, thường có vần, ngắn gọn và giàu hình ảnh để bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của con người trước cuộc đời. Nói gọn cho học sinh lớp 6: thơ là “văn có nhạc”, ít chữ mà gợi nhiều. Bài này giải thích thơ nghĩa là gì, đặc trưng của thơ, các loại thơ thường gặp và cách nhận ra một văn bản thơ.
| Khái niệm | Thể loại văn học dùng ngôn ngữ có nhịp điệu, hàm súc, giàu hình ảnh để biểu hiện cảm xúc, suy nghĩ |
| Nghĩa khác của chữ “thơ” | Tính từ: đẹp, gợi cảm như thơ (“phong cảnh rất thơ”); nhỏ tuổi (“con thơ”, “tuổi thơ”) |
| Thuộc | Một trong ba loại lớn của văn học, cùng với tự sự (truyện) và kịch |
| Dấu hiệu nhận biết | Chia dòng, thường chia khổ; có nhịp, có vần; lời cô đọng; có nhân vật trữ tình |
| Chữ Hán tương ứng | 詩 (thi): thi ca, thi sĩ, thi nhân |

Thơ được định nghĩa thế nào trong từ điển và sách Ngữ văn?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) xếp “thơ” là danh từ, chỉ một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu và vần điệu để nói điều muốn nói một cách hàm súc. Wiktionary tiếng Việt diễn đạt theo hướng khác một chút: thơ là loại văn có câu ngắn, có vần và âm điệu, phần nhiều tuân theo luật riêng của từng thể. Hai cách giảng gặp nhau ở ba chữ: nhịp điệu, hình ảnh, hàm súc.
Sách Ngữ văn hiện hành không bắt học sinh thuộc một định nghĩa dài. Thay vào đó, mỗi bài học thơ đưa ra vài yếu tố cần nắm: thể thơ, vần, nhịp, biện pháp tu từ, nhân vật trữ tình. Lên lớp 12, văn bản Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi đi sâu hơn vào bản chất: thơ trước hết là tiếng nói của tâm hồn, của cảm xúc được nén lại thành chữ. Phần đọc hiểu văn bản này nằm ở bài soạn Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi.
Chữ Hán của thơ là 詩 (thi). Thiều Chửu giảng: văn có vần gọi là thơ; xưa hay đặt câu bốn chữ, sau dùng năm chữ hoặc bảy chữ. Vì thế ta có thi sĩ, thi ca, thi phẩm, Đường thi.
Năm đặc trưng giúp nhận ra một bài thơ
- Chia dòng, thường chia khổ. Mỗi dòng thơ là một đơn vị nhịp, không viết liền như văn xuôi. Dòng có thể dài ngắn đều nhau (thơ năm chữ, bảy chữ) hoặc tự do.
- Có nhịp và thường có vần. Nhịp là chỗ ngắt khi đọc, ví dụ lục bát hay ngắt 2/2/2. Vần là sự lặp lại phần vần giữa các tiếng, có thể ở cuối dòng (vần chân) hoặc giữa dòng (vần lưng). Thơ tự do có thể ít vần nhưng vẫn có nhịp.
- Lời cô đọng, giàu hình ảnh. Một chữ trong thơ phải gánh nhiều nghĩa. Người viết hay dùng so sánh, ẩn dụ, nhân hóa để cái trừu tượng hiện ra thành hình ảnh nhìn thấy được.
- Thiên về cảm xúc. Truyện kể việc; thơ, nhất là thơ trữ tình, bày tỏ trạng thái của lòng người: nhớ, buồn, vui, khắc khoải.
- Có nhân vật trữ tình. Đó là “người đang nói” trong bài, có thể xưng tôi, ta, anh, em, hoặc ẩn đi. Cách xác định chủ thể này được giải thích kĩ trong bài người đang cất lời trong một bài thơ trữ tình.
Thơ được chia thành những loại nào
Không có một cách chia duy nhất. Ba cách hay gặp trong nhà trường:
| Tiêu chí | Các loại | Ví dụ |
|---|---|---|
| Theo cách phản ánh | Thơ trữ tình (bày tỏ cảm xúc); thơ tự sự, truyện thơ (kể một câu chuyện bằng thơ); thơ trào phúng (cười, châm biếm) | Thu điếu; Truyện Kiều; thơ Tú Xương |
| Theo luật | Thơ cách luật (lục bát, song thất lục bát, Đường luật); thơ tự do; thơ văn xuôi | Ca dao lục bát; thất ngôn bát cú; thơ tự do hiện đại |
| Theo số chữ mỗi dòng | Thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ… | Thơ năm chữ trong bài đồng dao, thơ thiếu nhi |
Ngoài ra còn cách chia theo thời kì: thơ dân gian (ca dao, đồng dao), thơ trung đại viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, thơ hiện đại mở đầu bằng phong trào Thơ mới đầu những năm 1930. Bảng tổng hợp đặc điểm từng thể, từ lục bát đến tự do, có ở trang tám thể thơ Việt Nam thường gặp.
Đọc ba đoạn thơ quen để thấy thơ làm việc ra sao?
Lục bát kể chuyện: hai câu mở đầu Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Một dòng sáu chữ, một dòng tám chữ; chữ “ta” ở cuối dòng sáu vần với chữ thứ sáu “là” của dòng tám. Nhịp lục bát êm, dễ thuộc, nên Nguyễn Du dùng nó để kể cả một câu chuyện dài hơn ba nghìn câu. Hai dòng đầu không kể việc mà nêu một nhận định về đời người, cho thấy thơ tự sự vẫn chứa đầy suy tư.
Thất ngôn bát cú: không khí ao thu của Nguyễn Khuyến
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Mỗi dòng bảy chữ, gieo vần “eo” ở cuối dòng. Vần này hẹp, đọc lên nghe nhỏ lại, khép lại, đúng với cái tĩnh, cái vắng của cảnh. Đây là lúc vần không chỉ để nghe êm tai mà còn tạo ra cảm giác. Thông tin về bài thơ có ở trang tác giả, bố cục bài thơ Thu điếu.
Tứ tuyệt và hình ảnh hai nghĩa: Bánh trôi nước
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Nghĩa thứ nhất là chiếc bánh trôi luộc trong nồi. Nghĩa thứ hai là thân phận người phụ nữ long đong. Chỉ bốn câu, bài thơ của Hồ Xuân Hương nói được hai chuyện cùng lúc: đó chính là sự hàm súc mà từ điển nhắc tới.
Thơ khác văn xuôi ở đâu?
| Điểm so sánh | Thơ | Văn xuôi |
|---|---|---|
| Cách trình bày | Chia dòng, chia khổ | Viết liền thành đoạn |
| Nhạc tính | Có nhịp rõ, thường có vần | Không bắt buộc vần, nhịp theo câu nói |
| Dung lượng | Thường ngắn, mỗi chữ chứa nhiều nghĩa | Dài ngắn tùy ý, có thể kể chi tiết |
| Trọng tâm | Cảm xúc, suy tưởng (với thơ trữ tình) | Sự việc, nhân vật, lập luận |
Ranh giới không tuyệt đối. Có “thơ văn xuôi” viết liền dòng mà vẫn giàu nhịp, ngược lại có những trang tùy bút đọc lên như thơ. Khi đề bài hỏi thể loại, hãy nhìn trước hết vào cách chia dòng và nhịp.
Bài tập nhận biết thơ có đáp án
Câu 1: Đoạn “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” là thơ hay văn xuôi? Dựa vào dấu hiệu nào?
Đáp án: Là thơ. Dấu hiệu: lời được chia dòng, mỗi dòng bảy chữ, hai dòng cùng gieo vần “eo” (veo, teo), đọc lên có nhịp 4/3 rõ ràng.
Câu 2: Xác định thể thơ và cách gieo vần của hai câu “Trăm năm trong cõi người ta, / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
Đáp án: Thể lục bát (dòng sáu chữ, dòng tám chữ). Tiếng thứ sáu của dòng sáu (“ta”) vần với tiếng thứ sáu của dòng tám (“là”). Đây là kiểu vần lưng đặc trưng của lục bát.
Câu 3: Trong bài Bánh trôi nước, hình ảnh “bảy nổi ba chìm” mang những lớp nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa tả thực: bánh trôi khi luộc chìm xuống rồi nổi lên nhiều lần. Nghĩa ẩn dụ: cuộc đời người phụ nữ nhiều thăng trầm, không tự quyết định được số phận. Một hình ảnh mang hai lớp nghĩa là ví dụ cho tính hàm súc của thơ.
Câu 4: Thơ trữ tình khác truyện thơ ở điểm nào? Lấy một ví dụ cho mỗi loại.
Đáp án: Thơ trữ tình chủ yếu nói lên nỗi lòng của người đang cất lời trong bài (ví dụ Thu điếu). Truyện thơ dùng thơ để kể một câu chuyện có nhân vật, có diễn biến (ví dụ Truyện Kiều). Truyện thơ vẫn có những đoạn trữ tình, nhưng mạch chính là câu chuyện.
Câu 5: Viết bốn dòng thơ năm chữ về sân trường buổi sáng, có ít nhất một cặp vần.
Đáp án tham khảo: “Sân trường vừa rửa nắng / Hàng phượng đứng lặng im / Tiếng trống vừa điểm nhịp / Ríu rít một bầy chim.” Cặp vần: “im” và “chim”. Học sinh có thể viết khác, miễn đúng năm chữ mỗi dòng và có vần. Muốn luyện thêm, xem bài hướng dẫn tập làm một bài thơ tự do.
Học sinh hay hỏi gì về thơ
Thơ nghĩa là gì khi nói “phong cảnh rất thơ”?
Khi đó “thơ” là tính từ, nghĩa là đẹp và gợi cảm xúc như trong thơ. Tương tự với “nên thơ”, “mộng mơ, thơ mộng”. Nghĩa này sinh ra từ danh từ thơ nhưng dùng để khen một cảnh, một khoảnh khắc.
“Thơ” trong “tuổi thơ”, “con thơ” có liên quan gì không?
Đây là một từ đồng âm, nghĩa là nhỏ tuổi, bé dại. Nó không liên quan đến thể loại văn học. Ở một số vùng Nam Bộ, “thơ” còn là cách đọc của “thư” (lá thơ).
Đặc trưng của thơ là gì nếu chỉ được nói một câu?
Thơ dùng lời có nhịp điệu, cô đọng và giàu hình ảnh để biểu hiện cảm xúc. Ba yếu tố nhạc, hình, tình gần như luôn có mặt, dù mức độ khác nhau ở từng thể.
Thơ trữ tình là gì?
Là loại thơ mà người viết (qua nhân vật trữ tình) nói thẳng ra những rung động của mình trước một cảnh, một người hay một sự việc. Phần lớn bài thơ học sinh gặp trong sách Ngữ văn thuộc loại này.