Vần là phần âm giống nhau hoặc gần giống nhau giữa các tiếng, được lặp lại để tạo sự hòa âm trong thơ. Hai tiếng “này” và “cày” vần với nhau vì chung phần “ay”. Còn gieo vần là cách nhà thơ đặt những tiếng hiệp vần ấy vào vị trí nhất định trong câu thơ. Ngoài thơ, chữ vần còn chỉ phần đứng sau âm đầu của một tiếng, thứ học sinh lớp 1 học khi đánh vần.
| Vần | Gieo vần | |
|---|---|---|
| Nghĩa ngắn | Phần âm giống nhau giữa các tiếng; phần sau âm đầu của một tiếng | Cách sắp đặt các tiếng hiệp vần vào chỗ nhất định trong bài thơ |
| Loại từ | Danh từ | Động từ (cũng dùng như danh từ: “cách gieo vần”) |
| Câu hỏi trả lời | Hai tiếng có vần với nhau không? | Vần được đặt ở đâu, theo quy luật nào? |
| Ví dụ | “nhà – xa”, “xuân – sân” | Lục bát: tiếng 6 câu lục vần với tiếng 6 câu bát |

Vần trong cấu tạo tiếng và trong thơ
Chữ vần có hai nghĩa gắn với nhau, một của ngữ âm học, một của thơ ca.
Trong cấu tạo tiếng. Mỗi tiếng tiếng Việt gồm âm đầu, vần và thanh điệu. Vần là phần còn lại sau khi tách âm đầu, có mô hình (âm đệm) + âm chính + (âm cuối), trong đó chỉ âm chính là bắt buộc. Tiếng “hoàn” có âm đầu h, vần “oan” (âm đệm o, âm chính a, âm cuối n) và thanh huyền. Tiếng “a” thì chỉ có vần, không có âm đầu. Đây là nghĩa trong “học vần”, “đánh vần”, “vần ít gặp” ở sách Tiếng Việt lớp 1, ví dụ bài học vần ít gặp lớp 1 Cánh diều.
Trong thơ. Vần là hiện tượng lặp lại phần vần ấy (thường khác âm đầu) ở những tiếng được đặt cách nhau, để các dòng thơ gọi nhau, níu nhau. Nhờ vần mà câu thơ dễ thuộc, dễ ngân. Ca dao, tục ngữ truyền miệng được hàng trăm năm cũng một phần nhờ vần.
Theo mức độ giống nhau, người ta chia vần chính và vần thông. Vần chính là trùng khít phần vần, như “nhà – xa” hay “mây – đầy”. Vần thông chỉ gần giống, như “xuân – sân”, hai tiếng chỉ lệch nhau ở âm đệm. Theo thanh điệu, có vần bằng (tiếng mang thanh ngang, thanh huyền) và vần trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng). Thơ Việt, nhất là lục bát, ưa vần bằng hơn.
Gieo vần là đặt vần vào chỗ nào
Có vần chưa đủ; vần phải đứng đúng chỗ. Gieo vần là chọn vị trí cho những tiếng hiệp vần, và mỗi thể thơ có một lối gieo riêng.
Xét theo vị trí trong dòng thơ, có hai kiểu chính. Vần chân (cước vận) đặt ở tiếng cuối dòng. Vần lưng (yêu vận) đặt ở giữa dòng, nối một tiếng cuối dòng trước với một tiếng giữa dòng sau. Lục bát dùng cả hai, thấy rõ trong bài ca dao quen:
Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Tiếng thứ sáu câu lục (“này”) vần với tiếng thứ sáu câu bát (“cày”): đó là vần lưng. Tiếng thứ tám câu bát (“ta”) vần với tiếng thứ sáu câu lục kế tiếp (“gia”): đó là vần chân. Cứ thế các cặp câu móc vào nhau như mắt xích. Muốn tập làm, xem bài luật và cách làm thơ lục bát.
Thất ngôn bát cú Đường luật gieo vần chân ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8, thường chỉ một vần bằng suốt bài. Trong Qua Đèo Ngang, năm tiếng “tà, hoa, nhà, gia, ta” cùng vần “a”, giữ cho cả bài một âm hưởng mênh mang, buồn vắng (xem thêm tác phẩm Qua Đèo Ngang và thể thơ).
Xét theo cách các vần nối tiếp nhau, còn có vần liền (hai dòng liền nhau cùng vần), vần cách (cách một dòng mới gặp lại vần) và vần ôm (một cặp vần nằm giữa một cặp vần khác). Thơ tự do có thể gieo vần thưa, đổi vần nhiều lần, hoặc bỏ hẳn vần.
Đặt vần và gieo vần lên một bảng
| Tiêu chí | Vần | Gieo vần |
|---|---|---|
| Bản chất | Một yếu tố âm thanh | Một thao tác, cách tổ chức |
| Cách chia | Vần chính / vần thông; vần bằng / vần trắc | Vần chân / vần lưng; vần liền / vần cách / vần ôm |
| Gắn với | Cả ngữ âm học (cấu tạo tiếng) và thơ ca | Chủ yếu thơ ca, câu đối, vè, khẩu hiệu |
| Câu nói thường gặp | “Hai chữ này không vần với nhau” | “Bài này gieo vần chân, vần bằng” |
| Lỗi hay gặp | Lấy hai tiếng trùng hẳn nhau làm vần (lặp từ chứ không phải vần) | Gieo vần trắc vào chỗ lục bát đòi vần bằng; gieo lệch vị trí |
Nói gọn: vần là viên gạch, gieo vần là cách xếp gạch. Có thể nhận ra hai tiếng vần với nhau mà vẫn chưa biết bài thơ gieo vần theo kiểu gì, và ngược lại khi phân tích thể thơ phải nắm cả hai.
Nhận ra vần khi đọc và khi viết
Khi đọc hiểu, đề thường hỏi “chỉ ra cách gieo vần” hoặc “nêu tác dụng của vần”. Cách làm gọn: tìm những tiếng cùng vần, ghi vị trí (cuối dòng hay giữa dòng), gọi tên kiểu vần, rồi nói tác dụng: liên kết các dòng, tạo nhạc điệu, nhấn vào một âm hưởng (vần “a” mở, ngân dài; vần có âm cuối “t”, “c” thì ngắn, dứt khoát).
Khi viết, đừng để vần kéo ý. Một câu thơ ép chữ cho đủ vần thường lộ ngay. Vần cũng là thứ phân biệt thơ với văn vần nhưng chưa phải tất cả; bài thơ khác văn vần ở đâu nói thêm về chỗ này.
Thắc mắc quanh chữ vần trong thơ
Vần trong thơ là gì?
Là sự lặp lại phần vần giống hoặc gần giống nhau giữa các tiếng ở những vị trí nhất định, nhằm liên kết các dòng và tạo nhạc điệu cho bài thơ.
Gieo vần là gì?
Là cách sắp đặt các tiếng hiệp vần vào những chỗ nhất định trong bài thơ theo luật của từng thể. Lục bát gieo cả vần lưng lẫn vần chân; thất ngôn bát cú gieo vần chân ở các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Vần chân và vần lưng khác nhau thế nào?
Vần chân nằm ở tiếng cuối dòng thơ. Vần lưng nằm ở giữa dòng, như tiếng thứ sáu của câu bát trong lục bát vần với tiếng cuối câu lục đứng trước.
Van là gì khi gõ thiếu dấu?
Phần lớn người gõ “van là gì” trong ngữ cảnh học văn là đang hỏi về vần. Nếu đúng là chữ “van” không dấu thì đó là tên gọi cái van (bộ phận đóng mở dòng nước, dòng khí), một nghĩa khác hẳn.
Vần lưng là gì?
Vần lưng, còn gọi là yêu vận, là vần gieo vào giữa dòng thơ chứ không ở cuối dòng. Ngoài lục bát, ta gặp nó trong song thất lục bát: tiếng cuối câu bảy thứ nhất vần với tiếng thứ năm của câu bảy thứ hai. Nhờ những chỗ móc vần giữa dòng như vậy, bài thơ dài vẫn liền mạch và dễ thuộc.