Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ Nôm quen thuộc trong sách Ngữ văn 7 chương trình cũ và vẫn thường xuất hiện trong đề đọc hiểu, đề cảm nhận ở bậc THCS (xem chuyên mục Ngữ văn lớp 7). Bài viết dưới đây tổng hợp văn bản, thông tin tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy để các em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Bánh trôi nước
Thơ Hồ Xuân Hương thuộc phạm vi tự do. Dưới đây là toàn văn bài thơ theo bản phổ biến (đối chiếu Wikisource, chú giải của Nguyễn Bỉnh Khôi).

Bánh trôi nước
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
(Hồ Xuân Hương)
Bài thơ là lời tự bạch của chiếc bánh trôi: trắng, tròn, lúc chìm lúc nổi trong nồi nước, rắn hay nát tùy người nặn, nhưng nhân đường đỏ bên trong thì không đổi. Đằng sau lời chiếc bánh là tiếng nói của người phụ nữ về nhan sắc, cuộc đời và tấm lòng của mình.
Thông tin tác giả Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương đến nay vẫn chưa được xác định chắc chắn năm sinh, năm mất. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bà sống khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, cùng thời với Nguyễn Du. Theo nhiều tài liệu, bà là con gái ông Hồ Phi Diễn, quê gốc làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhưng lớn lên và sống chủ yếu ở Thăng Long, khu vực gần Hồ Tây.
Cuộc đời bà nhiều éo le, nhất là chuyện tình duyên: hai lần lấy chồng đều làm lẽ và cả hai cuộc hôn nhân đều không trọn vẹn. Bà là người có học, giao du với nhiều văn nhân đương thời và đi nhiều nơi. Chi tiết hơn có ở bài tóm tắt tiểu sử Hồ Xuân Hương.
Di sản của bà gồm tập Lưu Hương kí (thơ chữ Hán và chữ Nôm) cùng khoảng vài chục bài thơ Nôm truyền tụng như Bánh trôi nước, Mời trầu, Tự tình, Quả mít, Đánh cờ… Đề tài nổi bật nhất là người phụ nữ: bà ca ngợi vẻ đẹp, cảm thông với thân phận và mạnh dạn đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ.
Thơ Hồ Xuân Hương vừa trữ tình vừa trào phúng, ngôn ngữ thuần Việt, giàu thành ngữ, tục ngữ, hình ảnh đời thường và giọng điệu rất cá tính. Bà được tôn vinh là “Bà chúa thơ Nôm” (xem Hồ Xuân Hương được mệnh danh là gì và phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương).
Thông tin tác phẩm Bánh trôi nước
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi học sinh hay tra cứu nhất về bài thơ.
Bánh trôi nước được in ở đâu?
Bánh trôi nước nằm trong số các bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, được các tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương in lại và đưa vào sách Ngữ văn 7 tập một (chương trình cũ, trang 94 – 95). Vì được lưu truyền qua nhiều bản chép, câu chữ ở một số sách có thể khác nhau đôi chút về dấu câu.
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Bánh trôi nước
Không có tài liệu ghi lại thời điểm cụ thể bài thơ ra đời. Có thể hiểu bối cảnh chung là xã hội phong kiến cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX với tư tưởng trọng nam khinh nữ, tục đa thê, khiến người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi. Là người phụ nữ tài hoa nhưng duyên phận lận đận, Hồ Xuân Hương thấu hiểu nỗi khổ ấy và gửi gắm vào hình ảnh chiếc bánh trôi quen thuộc.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật viết bằng chữ Nôm: 4 câu, mỗi câu 7 chữ, vần bằng “on” ở cuối câu 1, 2, 4 (tròn – non – son), nhịp 4/3.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chính, kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: chiếc bánh trôi tự xưng “em”, đồng thời là hình bóng người phụ nữ thời xưa.
Bố cục: Bánh trôi nước có mấy phần?
Bài thơ thường được chia làm 2 phần:
- Phần 1 (hai câu đầu): vẻ đẹp và cuộc đời chìm nổi – chiếc bánh trắng, tròn, lên xuống trong nồi nước; người phụ nữ xinh đẹp mà long đong.
- Phần 2 (hai câu cuối): thân phận bị phụ thuộc và tấm lòng son sắt – dù rắn hay nát do người nặn, bánh vẫn giữ nhân đỏ; người phụ nữ vẫn giữ phẩm giá.
Cũng có thể phân tích theo kết cấu khai – thừa – chuyển – hợp của thơ tứ tuyệt, mỗi câu là một bước của mạch cảm xúc.
Hai lớp nghĩa của bài thơ
- Nghĩa thực: tả chiếc bánh trôi – màu trắng của bột nếp, hình tròn, khi luộc lúc chìm lúc nổi, độ rắn nát tùy tay người làm, nhân đường đỏ bên trong.
- Nghĩa ẩn dụ: nói về người phụ nữ – vẻ đẹp trắng trong, đầy đặn; cuộc đời “bảy nổi ba chìm”; số phận do người khác định đoạt; lòng son sắt, trước sau như một.
Lớp nghĩa ẩn dụ mới làm nên giá trị của bài thơ; lớp nghĩa tả bánh chỉ là cái cớ để nhà thơ gửi gắm tâm sự.
Giá trị nội dung
- Ca ngợi cả nhan sắc lẫn phẩm hạnh của phụ nữ Việt Nam xưa: trong trắng, thủy chung, nhân hậu.
- Xót thương cho cuộc đời chìm nổi, không được tự quyết của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
- Ngầm lên tiếng phản kháng xã hội bất công và khẳng định bản lĩnh, ý thức về giá trị bản thân của người phụ nữ – điều hiếm thấy trong văn học trung đại.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thất ngôn tứ tuyệt được Việt hóa nhờ chữ Nôm và lời thơ bình dị, gần lời nói hằng ngày.
- Vận dụng sáng tạo chất liệu dân gian: lối xưng “thân em” của ca dao than thân, thành ngữ “ba chìm bảy nổi” được đảo thành “bảy nổi ba chìm”.
- Ẩn dụ, nhân hóa đặc sắc: chiếc bánh có tiếng nói, có tâm sự; hình ảnh vừa thực vừa giàu sức gợi.
- Kết cấu đối lập ở hai câu cuối với cặp quan hệ “mặc dầu… mà…”, làm nổi bật phẩm chất kiên định.
Ý nghĩa nhan đề Bánh trôi nước
Nhan đề gọi đúng tên một món bánh dân dã gắn với Tết Hàn thực (mùng 3 tháng 3 âm lịch). Chọn một vật bình thường làm nhan đề, Hồ Xuân Hương tạo ra cách đọc “hai tầng”: người đọc tưởng bài thơ vịnh vật, nhưng càng đọc càng thấy đó là lời tâm sự của người phụ nữ.
Sơ đồ tư duy Bánh trôi nước
Sơ đồ dưới đây tóm tắt 6 nội dung chính cần nhớ khi ôn tập.

Lời kết
Chỉ với bốn câu thơ, Bánh trôi nước cho thấy tài năng của Hồ Xuân Hương trong việc mượn một hình ảnh đời thường để nói về con người. Nắm chắc hai lớp nghĩa, bố cục hai phần cùng những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật, các em sẽ tự tin khi làm bài đọc hiểu hoặc viết bài cảm nhận về tác phẩm.
Ngoài phần kiến thức ở đây, phần hướng dẫn soạn bài Bánh trôi nước chương trình cũ còn gợi ý cách làm các bài tập sau văn bản.
Xem thêm: