Thao tác nghị luận là những cách tư duy và trình bày mà người viết dùng để làm sáng tỏ một vấn đề, khiến người đọc hiểu và đồng tình với ý kiến của mình, như giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Nhiều tài liệu gọi chúng là thao tác lập luận; hai cách gọi chỉ cùng một nhóm kĩ năng của bài văn nghị luận.
| Khái niệm | Cách tác động vào vấn đề bằng tư duy để thuyết phục người đọc, người nghe |
| Nghĩa của chữ “thao tác” | Làm theo một trình tự, đúng yêu cầu kĩ thuật |
| Các thao tác hay gặp | Giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận; thêm tổng hợp, quy nạp, diễn dịch |
| Dấu hiệu nhận biết | Xem người viết đang làm gì với vấn đề: làm rõ nghĩa, chia nhỏ, đưa bằng chứng, đối chiếu, phản bác hay đánh giá |

Vì sao gọi là thao tác nghị luận?
Chữ “thao tác” vốn quen ở xưởng máy và phòng thí nghiệm: thao tác mở máy, thao tác pha dung dịch, việc nào cũng có trình tự, làm sai một bước là hỏng. Bài “Các thao tác nghị luận” trong sách Ngữ văn 10 trước đây (tập hai, trang 131) mượn chữ ấy để nói về việc viết. Theo cách hiểu của sách, thao tác nghị luận cũng có trình tự và yêu cầu riêng, chỉ khác là nó diễn ra trong đầu, bằng tư duy, nhằm thuyết phục người khác chấp nhận cách nhìn của mình về một hiện tượng hay một vấn đề.
Một yêu cầu đi kèm mà sách nhấn mạnh: lời lẽ phải hợp lẽ phải và tôn trọng sự thật. Lập luận khéo đến đâu mà dựa trên dữ kiện sai thì vẫn là ngụy biện. Muốn nắm phần nền trước khi học các thao tác, nên đọc lại bài lập luận đi từ lí lẽ đến kết luận.
Sáu thao tác học sinh hay gặp nhất
Sách cũ chia rải rác: lớp 7 học chứng minh và giải thích, lớp 10 ôn phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, lớp 11 học riêng các thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận. Gom lại, có sáu thao tác chính xuất hiện dày đặc trong đề thi:
| Thao tác | Người viết làm gì | Câu hỏi nó trả lời |
|---|---|---|
| Giải thích | Làm rõ nghĩa một khái niệm, một câu nói, nguyên nhân của hiện tượng | Là gì? Vì sao? |
| Phân tích | Chia vấn đề thành từng mặt, từng bộ phận để xét kĩ | Gồm những mặt nào? |
| Chứng minh | Đưa dẫn chứng xác thực để khẳng định một ý là đúng | Lấy gì làm bằng? |
| So sánh | Đặt đối tượng cạnh đối tượng khác để thấy chỗ giống, chỗ khác | Giống, khác ra sao? |
| Bác bỏ | Chỉ ra một ý kiến sai, phân tích chỗ sai và nêu ý đúng | Sai ở đâu? |
| Bình luận | Bàn bạc, đánh giá đúng sai, hay dở, đề xuất ý kiến riêng | Nên nhìn nhận thế nào? |
Bốn thao tác tư duy còn lại thường đi theo cặp. Tổng hợp gom các ý bộ phận thành một kết luận chung, ngược chiều với phân tích. Quy nạp đi từ nhiều trường hợp riêng để rút ra điều chung; diễn dịch đi từ một nhận định chung rồi áp xuống từng trường hợp. Riêng thao tác phân tích có hẳn một bài giải nghĩa: phân tích như một thao tác lập luận.
Nhìn vào đâu để biết đoạn văn dùng thao tác nào?
Đừng tìm thao tác bằng từ khóa trong đề, hãy hỏi: trong đoạn này, người viết đang làm gì với vấn đề? Ba mẹo thực dụng:
- Nhìn câu chủ đề. Câu đầu đoạn dạng “X là…”, “Hiểu một cách đơn giản…” thường mở màn cho giải thích. Câu nêu ý kiến của người khác rồi kèm “nhưng thực ra…” là dấu hiệu bác bỏ.
- Nhìn phần thân đoạn. Thân đoạn liệt kê sự việc, con số, tên người thật thì nghiêng về chứng minh. Thân đoạn tách “một là… hai là…”, “về mặt… về mặt…” là phân tích. Có cặp đối chiếu “nếu như… thì…”, “khác với…” là so sánh.
- Nhìn câu chốt. Đoạn kết bằng nhận xét đánh giá, lời đề xuất (“cần”, “nên”) thường là bình luận.
Một đoạn văn thật hiếm khi dùng duy nhất một thao tác. Thường có một thao tác chủ đạo, các thao tác khác chen vào phụ trợ. Đề hỏi “thao tác chính” thì chỉ cần nêu cái chủ đạo và giải thích vì sao.
Thao tác nghị luận trong Hịch tướng sĩ và Hiền tài là nguyên khí
Quy nạp bằng chuỗi gương người xưa
Mở đầu Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn không vội hô hào mà kể một loạt tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách Trung Hoa, người thì chịu chết thay chủ, người thì liều thân giữ nước. Kể xong mới chốt lại thành một câu hỏi tu từ khẳng định: đời nào mà chẳng có người bỏ mình vì nước. Đi từ nhiều trường hợp riêng tới một kết luận chung, đó là quy nạp; và chính số lượng tấm gương làm kết luận thêm sức nặng. Muốn ôn lại cả bài, xem phần soạn Hịch tướng sĩ cho lớp 8 và lớp 10.
Phân tích rồi diễn dịch trong bài kí của Thân Nhân Trung
Trong Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, Thân Nhân Trung nêu nhận định chung rồi tách hai chiều của mối quan hệ: nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu. Đó là phân tích. Từ nhận định chung đã được làm rõ, ông suy ra việc phải làm: nhà nước cần coi trọng việc bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Đó là diễn dịch. Hai thao tác nối nhau khiến lời bàn vừa chặt vừa dẫn tới hành động cụ thể. Tham khảo thêm bài soạn Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
So sánh xưa và nay trong bài của Hồ Chí Minh
Ở Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, sau khi điểm lại những trang sử chống ngoại xâm, tác giả đặt đồng bào thời kháng chiến bên cạnh tổ tiên để khẳng định hai lớp người cùng chung một lòng yêu nước. Đây là so sánh nhằm thấy điểm giống nhau, xen giữa là một chuỗi dẫn chứng theo lứa tuổi, nghề nghiệp, vùng miền để chứng minh.
Thao tác nghị luận khác biện pháp tu từ thế nào?
Chỗ dễ nhầm nhất là chữ “so sánh”. Cùng một tên gọi nhưng đây là hai chuyện thuộc hai tầng khác nhau.
| Tiêu chí | Thao tác lập luận so sánh | Biện pháp tu từ so sánh |
|---|---|---|
| Phạm vi | Cả đoạn, cả phần bài | Một câu, một cụm từ |
| Mục đích | Làm rõ vấn đề để thuyết phục | Gợi hình, gợi cảm |
| Ví dụ | Đối chiếu cách học thụ động với cách học chủ động để chỉ ra cách nào hiệu quả | “Quả bóng đỏ lăn tròn như một vầng trăng nhỏ” |
Phép tu từ thì có bài riêng ở mục phép so sánh trong tiếng Việt và các kiểu so sánh. Còn “phương thức biểu đạt nghị luận” là tên gọi của cả kiểu văn bản, trong khi thao tác là từng động tác bên trong kiểu văn bản ấy.
Năm câu luyện nhận diện thao tác, có đáp án
Câu 1: Đoạn văn mở bằng câu “Lòng biết ơn là sự ghi nhớ và đền đáp những gì người khác đã làm cho mình”, sau đó cắt nghĩa từng vế. Đoạn dùng thao tác chính nào?
Đáp án: Giải thích. Đoạn văn trả lời câu hỏi “lòng biết ơn là gì” bằng cách làm rõ nội hàm khái niệm, chưa đưa dẫn chứng hay đánh giá.
Câu 2: Một đoạn văn nêu ý kiến “Học giỏi văn thì không cần học toán”, rồi chỉ ra ý kiến này phiến diện vì viết văn cũng cần tư duy logic. Đó là thao tác gì?
Đáp án: Bác bỏ. Dấu hiệu là đoạn văn dẫn một ý kiến sai, chỉ ra chỗ sai và đưa ra cách nhìn đúng hơn.
Câu 3: Phân biệt quy nạp với tổng hợp trong một câu.
Đáp án: Quy nạp đi từ nhiều trường hợp riêng để rút ra quy luật chung; tổng hợp gom các phương diện đã phân tích của cùng một vấn đề thành kết luận khái quát. Quy nạp mở rộng ra ngoài, tổng hợp thu gọn vào trong.
Câu 4: Đề bài “Có ý kiến cho rằng mạng xã hội khiến người trẻ cô đơn hơn. Suy nghĩ của em?” cần kết hợp những thao tác nào?
Đáp án tham khảo: Giải thích ý kiến (cô đơn ở đây là gì), phân tích hai mặt của mạng xã hội, chứng minh bằng dẫn chứng thực tế, bác bỏ cách nhìn một chiều nếu có, cuối cùng bình luận và đề xuất cách dùng mạng hợp lí.
Câu 5: Viết hai câu dùng thao tác so sánh để bàn về việc đọc sách giấy và đọc trên điện thoại.
Đáp án tham khảo: “Cùng một cuốn tiểu thuyết, đọc trên giấy ta dễ dừng lại gạch chân, ghi chú, còn đọc trên điện thoại ta dễ bị kéo đi bởi thông báo. Khác nhau không nằm ở nội dung mà ở mức độ tập trung mỗi cách đọc cho phép.”
Mấy chỗ dễ lúng túng với thao tác lập luận
Thao tác lập luận là gì, có khác thao tác nghị luận không?
Về thực chất là một. Sách Ngữ văn 10 cũ dùng tên “thao tác nghị luận”, sách lớp 11 cũ gọi từng thao tác là “thao tác lập luận phân tích”, “thao tác lập luận so sánh”… Khi làm bài, dùng tên nào cũng được, miễn gọi đúng thao tác.
Có bao nhiêu thao tác nghị luận?
Không có con số cố định. Hay gặp nhất là sáu: giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Một số tài liệu kể thêm tổng hợp, quy nạp, diễn dịch như các thao tác tư duy nền.
Đoạn văn dùng nhiều thao tác thì trả lời thế nào?
Nêu thao tác chủ đạo trước, sau đó kể các thao tác phụ nếu đề yêu cầu. Luôn kèm một câu chỉ ra dấu hiệu trong đoạn để người chấm thấy em không đoán mò.
Thao tác nghị luận dùng trong những kiểu bài nào?
Mọi kiểu bài nghị luận đều dùng, từ bài nghị luận xã hội ở các dạng đề đến bài nghị luận văn học. Ngay cả văn thuyết minh hay biểu cảm đôi khi cũng mượn giải thích, so sánh để làm rõ ý.