Đầu voi đuôi chuột là thành ngữ chê những việc khởi đầu rầm rộ, phô trương nhưng kết thúc nhỏ nhoi, nhạt nhẽo hoặc bỏ dở giữa chừng. Hình ảnh rất dễ nhớ: một cái đầu to như đầu voi gắn với cái đuôi bé tí như đuôi chuột. Người ta dùng câu này cho một kế hoạch, một phong trào, một bài văn, có khi cho cả tính cách một người làm gì cũng hăng lúc đầu.
| Nghĩa ngắn | Đầu thì to tát, cuối thì nhỏ nhoi; làm không đến nơi đến chốn |
| Thể loại | Thành ngữ bốn chữ, đối xứng đầu – đuôi, voi – chuột |
| Sắc thái | Chê, có khi tự giễu |
| Trái nghĩa | Có đầu có đuôi, đến nơi đến chốn |

Đầu voi đuôi chuột: một con vật khó ghép
Người xưa chọn hai con vật ở hai đầu thang đo kích cỡ mà họ biết rõ nhất. Voi là con vật to lớn nhất trong đời sống quen thuộc, đi đâu cũng rùng rùng, ai cũng phải ngước nhìn. Chuột thì nhỏ, lủi thủi trong xó bếp, và trong ca dao, tục ngữ thường bị đem ra giễu. Ghép đầu con này với đuôi con kia, ta có một sinh vật lố bịch: phía trước hoành tráng, phía sau teo tóp.
Cấu trúc thành ngữ rất chặt. “Đầu” đối với “đuôi”, “voi” đối với “chuột”, bốn chữ chia làm hai vế cân nhau. Chính sự cân đối của câu chữ làm nổi bật sự mất cân đối của việc được nói tới. Đọc lên đã thấy buồn cười.
Tiếng Trung có thành ngữ cùng ý là 虎頭蛇尾 (hổ đầu xà vĩ), nghĩa đen là đầu hổ đuôi rắn. Hai bên cùng dùng cách ghép đầu một con vật lớn, oai với đuôi một con vật nhỏ hơn hẳn. Không có cơ sở chắc chắn để nói câu tiếng Việt dịch từ câu tiếng Trung; chỉ biết mỗi bên chọn con vật gần gũi với mình. Voi và chuột thì chênh nhau xa hơn, nên câu tiếng Việt nghe còn đậm chất châm biếm hơn.
Con voi còn đi vào tiếng Việt qua một tên gọi khác là con vâm, nên mới có câu khen người khỏe như vâm.
Câu gần nghĩa và trái nghĩa với đầu voi đuôi chuột
| Câu | Quan hệ | Chỗ khác |
|---|---|---|
| Đánh trống bỏ dùi | Gần nghĩa | Nhấn vào chuyện khởi xướng rồi bỏ mặc, không theo đến cùng |
| Cả thèm chóng chán | Gần nghĩa | Nói về tính cách: ham cái mới rồi mau chán |
| Bỏ dở giữa chừng | Gần nghĩa (lối nói thường) | Chỉ nói việc chưa xong, không có ý chê sự phô trương lúc đầu |
| Có đầu có đuôi, đến nơi đến chốn | Trái nghĩa | Làm việc trọn vẹn từ đầu tới cuối |
| Trước sau như một | Trái nghĩa | Giữ đúng tinh thần, lời hứa ban đầu |
Cặp dễ lẫn nhất là “đầu voi đuôi chuột” và “cả thèm chóng chán”. Câu sau nói về con người: ai đó thích gì là lao vào, được vài hôm thì bỏ. Câu trước nói về kết quả của việc làm: mở màn to, khép lại nhỏ. Một người cả thèm chóng chán thì rất dễ làm việc gì cũng đầu voi đuôi chuột. Chữ “cả” trong câu kia được giải thích riêng ở bài giải nghĩa thành ngữ cả thèm chóng chán.
Cũng thú vị khi đặt câu này cạnh lời khuyên “vạn sự khởi đầu nan” (mọi việc khó nhất là lúc bắt đầu). Thành ngữ đầu voi đuôi chuột cho thấy mặt còn lại: có khi bắt đầu lại là phần dễ nhất, cái khó là giữ được sức đến cuối. Bài giải thích câu vạn sự khởi đầu nan có thể đọc thêm để thấy hai lời nhắc bổ sung cho nhau.
Dùng cho việc, cho người hay cho cả kế hoạch?
Đầu voi đuôi chuột dùng được cho cả ba, miễn là có hai vế: một khởi đầu ồn ào và một kết quả kém xa lời hứa. Nếu việc chỉ đơn giản là chưa xong, mà lúc đầu cũng không phô trương gì, thì dùng thành ngữ này là quá tay.
- Phong trào trồng cây của khu phố khai mạc có cả loa đài, ba tháng sau chỉ còn vài cây sống: đúng là đầu voi đuôi chuột.
- Đầu năm cậu ấy lập kế hoạch đọc năm mươi cuốn sách, cuối năm đọc chưa xong cuốn thứ hai, tự nhận là đầu voi đuôi chuột.
- Bộ phim quảng cáo rầm rộ suốt nửa năm, xem xong ai cũng chê cái kết đầu voi đuôi chuột.
- Dự án nào cũng nên có người theo dõi đến cùng, kẻo lại đầu voi đuôi chuột.
Thành ngữ đứng được ở nhiều vị trí trong câu: làm vị ngữ (“kế hoạch ấy đầu voi đuôi chuột”), làm định ngữ (“cái kết đầu voi đuôi chuột”) hay đứng sau “kiểu”, “đúng là”. Giọng chê của nó vừa phải, có thể tự giễu chính mình mà không quá nặng nề.
Bài văn đầu voi đuôi chuột trông ra sao?
Thầy cô dạy văn hay dùng chính thành ngữ này để nhận xét bài làm. Một bài văn đầu voi đuôi chuột thường có mở bài rất dài, trích dẫn danh ngôn, dùng nhiều từ đẹp; thân bài dàn được hai ý thì hết giờ; kết bài chỉ còn một câu vội vàng hoặc bỏ trống.
Cách tránh khá đơn giản. Lập dàn ý trước khi viết và chia thời gian cho từng phần. Mở bài chỉ cần ba bốn câu đúng trọng tâm. Phần lớn sức lực dành cho thân bài, nơi chấm điểm nhiều nhất. Và luôn chừa vài phút cuối cho một kết bài tử tế, vì đó là ấn tượng sau cùng người chấm mang theo.
Lời phê “đầu voi đuôi chuột” ở cuối bài văn thường đau hơn một lời phê dài, bởi nó chỉ ra đúng chỗ: người viết có sức, nhưng không biết phân sức.
Đầu to, đuôi nhỏ trong lời ăn tiếng nói
Đầu voi đuôi chuột là gì?
Là thành ngữ chỉ việc bắt đầu thì to tát, phô trương nhưng kết thúc lại nhỏ bé, kém cỏi hoặc bỏ dở. Câu này dùng để chê cách làm việc thiếu bền bỉ.
Trái nghĩa với đầu voi đuôi chuột là câu nào?
Có thể dùng “có đầu có đuôi”, “đến nơi đến chốn” hoặc “trước sau như một”. Những câu này khen việc làm trọn vẹn, giữ được tinh thần từ đầu tới cuối.
Đầu voi đuôi chuột tiếng Trung nói thế nào?
Tiếng Trung có thành ngữ 虎頭蛇尾, đọc theo âm Hán Việt là hổ đầu xà vĩ, nghĩa đen là đầu hổ đuôi rắn. Ý nghĩa tương đương: mở đầu mạnh mẽ, kết thúc yếu ớt.
Đầu voi đuôi chuột là thành ngữ hay tục ngữ?
Là thành ngữ. Nó là một cụm bốn chữ cố định, dùng để nhận xét, phải đặt vào câu mới trọn ý; nó không phải một câu đúc kết kinh nghiệm như tục ngữ.