Chiến tranh là cuộc xung đột có vũ trang, kéo dài, giữa các quốc gia, dân tộc hoặc các lực lượng trong một nước, nhằm giành lấy những mục đích chính trị, kinh tế nhất định. Hiểu “chiến tranh nghĩa là gì” cho đủ thì cần nhớ hai điều: có vũ khí, và có mục đích đứng sau tiếng súng. Từ này còn được dùng theo nghĩa bóng, như chiến tranh lạnh hay chiến tranh giá cả.
| Nghĩa ngắn | Xung đột vũ trang giữa các quốc gia, dân tộc, lực lượng, vì mục đích chính trị, kinh tế |
| Gốc từ | Hán Việt 戰爭: chiến (đánh nhau) + tranh (giành giật) |
| Loại từ | Danh từ |
| Trái nghĩa | Hòa bình |
| Tiếng Anh | war; “chiến tranh lạnh” là cold war |

Chiến tranh là gì?
Hai đứa trẻ giành nhau quả bóng là tranh chấp. Hai làng cãi nhau về bờ ruộng là mâu thuẫn. Chỉ khi các bên tổ chức lực lượng, cầm vũ khí và đánh nhau có kế hoạch, người ta mới gọi đó là chiến tranh. Mục từ này trong từ điển tiếng Việt nhấn vào hai ý: đụng độ bằng vũ khí giữa các dân tộc, quốc gia, giai cấp hay tập đoàn, và một mục tiêu chính trị, kinh tế đằng sau cuộc đụng độ ấy.
Chữ “mục đích” ở cuối định nghĩa là chỗ đáng dừng lại. Một vụ ẩu đả trên phố có thể rất dữ dội, nhưng không ai gọi là chiến tranh, vì nó không phục vụ một mục tiêu chung của cả một cộng đồng. Nhà lí luận quân sự người Phổ Carl von Clausewitz, trong cuốn Bàn về chiến tranh, từng nhìn nó như sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác. Nhận xét ấy được trích dẫn rất nhiều, và cũng bị tranh luận không ít.
Theo cách người ta thường phân loại, có chiến tranh giữa các nước, nội chiến (giữa các phe trong cùng một nước), chiến tranh thế giới (kéo nhiều cường quốc vào cùng lúc). Từ điển còn ghi những cụm quen như chiến tranh xâm lược, chiến tranh giải phóng dân tộc; hai cụm này khác nhau ở chỗ ai đi đánh vào đất của ai.
Chiến tranh, xung đột, chiến dịch: đừng dùng lẫn
| Từ | Phạm vi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chiến tranh | Cả một cuộc đối đầu vũ trang, có thể kéo dài nhiều năm | Chiến tranh thế giới thứ hai |
| Xung đột | Rộng hơn: va chạm vũ trang nhỏ, hoặc chỉ là mâu thuẫn quyền lợi, ý kiến | Xung đột biên giới; xung đột giữa hai thế hệ |
| Chiến dịch | Một chuỗi trận đánh có mục tiêu riêng, nằm trong cuộc chiến | Chiến dịch Điện Biên Phủ |
| Trận đánh | Một lần giao chiến ở một nơi, trong thời gian ngắn | Trận Bạch Đằng |
| Hòa bình | Trạng thái không có chiến tranh, trái nghĩa trực tiếp | Khôi phục hòa bình |
Đồng nghĩa gần nhất là chiến cuộc, binh đao, can qua; mấy từ sau mang màu cổ, hay gặp trong thơ văn trung đại. Phía bên kia là hòa bình, từ đã được giải nghĩa kĩ ở bài chữ 和平 và biểu tượng chim bồ câu.
Có một kiểu “chiến tranh” không nổ súng. Chiến tranh lạnh lúc đầu chỉ thời kì đối đầu căng thẳng giữa hai khối cường quốc sau năm 1945, khi hai bên chạy đua vũ trang, cạnh tranh ảnh hưởng nhưng không đánh nhau trực tiếp. Về sau người Việt mượn cụm này cho chuyện nhà: vợ chồng giận nhau, cả tuần không nói câu nào. Chuyện im lặng ấy được bàn riêng ở bài cách im lặng có chủ ý trong lúc giận nhau.
Động từ chiến đấu cũng có nhiều từ thay thế như giao chiến, tác chiến, chống chọi; đồng nghĩa, trái nghĩa với chiến đấu chỉ ra chỗ nào đổi được.
Cũng đừng đánh đồng chiến tranh với một cuộc cách mạng, sự thay đổi tận gốc một chế độ, dù hai việc nhiều lần đi cùng nhau trong lịch sử.
Lối đánh lấy ít địch nhiều, đánh nhanh rút gọn của quân dân ta có một tên gọi riêng là chiến tranh du kích.
戰 và 爭: đánh nhau để giành lấy
Ghép từ hai chữ Hán, nghĩa của chiến tranh hiện ra khá rõ. Chữ chiến (戰) theo Thiều Chửu là hai bên bày trận đánh nhau; chữ này còn một nghĩa ít ai để ý là run rẩy, rét run. Chữ tranh (爭) là giành giật, cố lấy phần hơn về mình, cũng là chữ trong tranh giành, cạnh tranh, tranh luận.
Đặt cạnh nhau, chiến tranh là đánh nhau để giành lấy một thứ gì đó: đất đai, tài nguyên, quyền lực. Cùng họ chữ chiến có chiến đấu, chiến sĩ, chiến thắng, tuyên chiến, đình chiến. Chữ thương chiến (cuộc chiến buôn bán) cho thấy nghĩa bóng đã có từ lâu trong Hán văn, chứ không phải đến lúc báo chí nói “chiến tranh thương mại” mới có.
Người ở lại trong thơ văn thời binh lửa
Văn học viết về chiến tranh thường không dừng ở chiến trường. Mở đầu Chinh phụ ngâm, khúc ngâm của Đặng Trần Côn được diễn Nôm theo thể song thất lục bát, là hai câu:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
“Gió bụi” ở đây là binh lửa. Người kể không phải người lính mà là người vợ ở nhà, đếm ngày chờ chồng. Học sinh lớp 9 đọc kĩ tâm trạng ấy qua đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ. Văn học hiện đại có những trang trực diện hơn: bài thơ Đồng chí của Chính Hữu kể tình đồng đội giữa thiếu thốn, còn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đi vào vết thương mà cuộc chiến để lại trong một người lính trở về.
Viết đoạn nghị luận về chiến tranh và hòa bình
Đề “Suy nghĩ về giá trị của hòa bình” hay “Cảm nhận về hình ảnh người lính” thường cần mở đầu bằng việc hiểu đúng chiến tranh là gì. Một khung ý gợi ý:
- Giải thích: chiến tranh là xung đột vũ trang vì mục đích chính trị, kinh tế; nó khác cãi vã hay tranh chấp thông thường ở quy mô và vũ khí.
- Hậu quả: mất mát về người, nhà cửa, ruộng đồng; những gia đình li tán; nỗi đau kéo dài nhiều chục năm sau tiếng súng cuối cùng.
- Bài học: trân trọng hòa bình đang có, giải quyết bất đồng bằng đối thoại, nhớ ơn những người đã ngã xuống.
Dẫn chứng nên lấy từ chính văn bản đã học thay vì số liệu nhớ mang máng. Một câu như “Ông nội em đi bộ đội năm mười tám tuổi, về nhà khi tóc đã bạc một bên thái dương” nói về chiến tranh thuyết phục hơn mọi con số chép vội.
Chiến tranh qua vài cách gọi khác
Chiến tranh lạnh là gì?
Là thời kì đối đầu căng thẳng giữa hai khối cường quốc sau Thế chiến thứ hai: chạy đua vũ trang, cạnh tranh ảnh hưởng nhưng không giao chiến trực tiếp với nhau. Trong đời thường, “chiến tranh lạnh” là lúc hai người giận nhau và im lặng kéo dài.
Chiến tranh tiếng Anh là gì?
Là war. Nội chiến là civil war, chiến tranh thế giới là world war, còn tính từ “thuộc về chiến tranh” thường dịch là military hoặc wartime tùy văn cảnh.
Nguyên nhân của chiến tranh thường là gì?
Các nhà nghiên cứu nêu nhiều nguyên nhân đan vào nhau: tranh giành đất đai, tài nguyên, quyền lực; mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, ý thức hệ. Hiếm có cuộc chiến nào chỉ do một lí do duy nhất.
Chiến tranh và xung đột vũ trang có giống nhau không?
Gần nhau nhưng không trùng. Xung đột vũ trang có thể chỉ là một vụ đụng độ ngắn ở biên giới; chiến tranh là cuộc đối đầu có tổ chức, quy mô lớn và thường kéo dài.
Binh đao, can qua, binh lửa hợp với giọng văn nào, và vì sao chiến sự không thay trọn chiến tranh, có trong đồng nghĩa, trái nghĩa với chiến tranh.