Tiết độ sứ là tên một chức quan đặt ra từ thời nhà Đường (Trung Quốc), ban đầu là võ quan coi việc quân ở một vùng trấn giữ biên giới, về sau nắm luôn cả hành chính, thuế khóa của vùng ấy. Với học sinh Việt Nam, chức tiết độ sứ là chức gì sẽ rõ hơn qua sự kiện Khúc Thừa Dụ năm 905: người Việt tự nắm chức quan này, mở đầu thời kì tự chủ.
| Nghĩa ngắn | Quan đứng đầu một trấn (phiên trấn), cầm quân và dần nắm cả việc cai trị |
| Gốc từ | Hán Việt 節度使 |
| Loại từ | Danh từ, thuật ngữ lịch sử |
| Thời gian tồn tại | Đặt từ đầu thế kỉ VIII thời Đường; ở nước ta gắn với Tĩnh Hải quân thế kỉ IX–X |

Tiết độ sứ là chức quan gì?
Hiểu đơn giản, tiết độ sứ là người được triều đình trung ương giao trấn giữ một vùng rộng, gồm nhiều châu, với quyền chỉ huy quân đội ở đó. Lúc mới đặt, chức này chỉ lo việc quân. Càng về sau, người giữ chức còn được tự mộ lính, bổ nhiệm thuộc hạ và thu thuế để nuôi quân. Một tiết độ sứ mạnh vì thế chẳng khác gì một ông vua nhỏ trong vùng mình.
Các từ điển tiếng Việt giải thích chức này gắn với lịch sử nước ta: một chức quan to nắm binh quyền, thường do hoàng đế Trung Quốc phong hoặc thừa nhận. Cách giải thích ấy khớp với giai đoạn cuối Bắc thuộc, khi đất nước ta là Tĩnh Hải quân và người đứng đầu mang danh hiệu “Tĩnh Hải quân tiết độ sứ”.
Trong sách vở, tên chức thường đi kèm tên vùng: Hà Tây tiết độ sứ, Lĩnh Nam tiết độ sứ, Tĩnh Hải quân tiết độ sứ. Đọc thấy cấu trúc “tên vùng + tiết độ sứ” là biết đó là người cầm đầu vùng ấy.
節度使: cờ tiết trong tay viên sứ
Tên chức có ba chữ Hán. Chữ tiết (節) nghĩa gốc là đốt tre, rồi mở rộng thành chừng mực, khí tiết. Thiều Chửu còn ghi một nghĩa xưa rất hợp ở đây: phù tiết, tức tín vật của nhà vua mà người được sai đi phải mang theo để làm tin. Chữ độ (度) là đồ đo, rồi phép tắc, chừng mực, như trong chế độ, pháp độ. Chữ sứ (使) là người được sai đi làm việc, như sứ giả, đại sứ.
Ghép lại, cái tên gợi hình ảnh một viên quan cầm tín vật của vua, được giao quyền xếp đặt, điều khiển mọi việc ở một vùng xa kinh đô. Điều thú vị là hai chữ đầu tiết độ trong tiếng Việt hiện nay còn sống riêng với nghĩa “có chừng mực” (ăn uống có tiết độ), một nghĩa nghe rất hiền lành so với những ông quan cát cứ trong sử.
Từ quan giữ biên thành lãnh chúa cát cứ
Khoảng năm 710–711, để chống những cuộc tấn công từ phía tây, nhà Đường đặt chức tiết độ sứ đầu tiên ở vùng Hà Tây. Đến đời Đường Huyền Tông, dọc biên giới đã có mười trấn có tiết độ sứ.
Quyền lớn kéo theo hiểm họa. An Lộc Sơn từng một mình giữ chức tiết độ sứ ở ba trấn, nắm trong tay quân đội rất đông, rồi chính ông ta khởi binh năm 755, mở đầu cuộc loạn An Sử làm nhà Đường suy hẳn. Sau loạn, triều đình không thu lại được quyền, tiết độ sứ còn đặt thêm ở cả vùng nội địa, nhiều nơi cha truyền con nối. Cuối cùng nhà Đường bị chính một tiết độ sứ là Chu Ôn lật đổ năm 907. Sang thời Tống, chức này chỉ còn là danh hiệu, rồi biến mất ở thời Nguyên.
Khúc Thừa Dụ và danh hiệu Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
Năm 866, nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân, đặt chức tiết độ sứ để cai quản; người đầu tiên giữ chức là Cao Biền. Những người giữ chức sau đó đều là quan người phương Bắc.
Năm 905, nhân lúc nhà Đường rối ren và viên tiết độ sứ ở Tĩnh Hải quân bị triệu về, hào trưởng đất Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ đem quân chiếm thủ phủ Đại La, tự xưng tiết độ sứ. Nhà Đường không còn đủ sức can thiệp, đành phong chức cho ông. Trên danh nghĩa, nước ta vẫn là một trấn của nhà Đường. Trên thực tế, người Việt đã tự cai quản đất nước mình.
Chức ấy tiếp tục ở trong tay người Việt qua Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, rồi Dương Đình Nghệ. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền không nhận danh hiệu tiết độ sứ nữa mà xưng vương, chấm dứt hẳn thời Bắc thuộc. Trận đánh ấy về sau được nhắc lại trong bài phú nổi tiếng về sông Bạch Đằng. Bởi vậy, bài kiểm tra Lịch sử lớp 6 hay hỏi việc Khúc Thừa Dụ xưng tiết độ sứ có ý nghĩa gì; câu trả lời ngắn là: giành quyền tự chủ, đặt nền cho nền độc lập.
Tiết độ sứ, thứ sử, đô hộ: đừng lẫn chức này với chức kia
Sách lịch sử về thời Bắc thuộc nhắc nhiều tên chức quan. Bảng sau giúp đặt chúng vào đúng chỗ.
| Chức danh | Đứng đầu | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thứ sử (刺史) | Một châu | Có từ thời Hán; lúc đầu là quan đi giám sát, sau thành quan cai trị châu |
| Đô hộ (đô hộ phủ) | Một vùng đất bị cai trị, như An Nam đô hộ phủ | Đơn vị nhà Đường dùng ở nước ta từ năm 679 đến 866 |
| Tiết độ sứ (節度使) | Một phiên trấn gồm nhiều châu | Cầm quân, về sau nắm cả hành chính, tài chính |
| Vương, đế | Cả một nước độc lập | Ngô Quyền xưng vương năm 939, bỏ hẳn danh hiệu tiết độ sứ |
Đọc tên chức cho đúng cũng là bước đầu của cách nhà sử học đọc sử liệu. Mấy chức trên không có quan hệ đồng nghĩa hay trái nghĩa theo kiểu từ thường; chúng là các bậc khác nhau trong bộ máy cai trị. Gần với tiết độ sứ nhất là phiên trấn, tên gọi vùng đất do một tiết độ sứ cầm đầu. Một chỗ học sinh hay viết sai: “tiết độ xứ”. Chữ ở cuối là sứ trong sứ giả, không phải xứ trong xứ sở.
Tiết độ sứ qua mấy câu ôn bài Lịch sử
Tiết độ sứ là chức gì trong lịch sử Việt Nam?
Là chức đứng đầu Tĩnh Hải quân, tên gọi nước ta thời cuối Bắc thuộc. Lúc đầu do nhà Đường cử người phương Bắc sang; từ năm 905 Khúc Thừa Dụ và các người kế tục là người Việt nắm chức này.
Vì sao Khúc Thừa Dụ xưng tiết độ sứ mà không xưng vương?
Giữ danh hiệu của nhà Đường giúp ông có được sự thừa nhận, tránh cớ cho phương Bắc đem quân sang, trong khi thực quyền đã nằm trong tay người Việt. Đó là cách giành tự chủ khéo léo khi thế nước còn chưa đủ mạnh.
Tiết độ sứ tiếng Anh là gì?
Sách tiếng Anh thường giữ phiên âm tiếng Trung là jiedushi, hoặc dịch là military governor, military commissioner.
Tiết độ sứ còn xuất hiện sau thời Bắc thuộc không?
Có, nhưng chỉ là chức quan bình thường, không còn là người đứng đầu đất nước. Sử thời Trần vẫn ghi một số người giữ chức tiết độ sứ ở các lộ, phủ.