Giai thoại là mẩu chuyện ngắn, lí thú, được truyền miệng hoặc chép lại rộng rãi, kể về một nhân vật hay một sự việc có thật. Người có thật, nhưng chuyện thì qua nhiều lần kể đã được thêm thắt, nên không thể coi là sử liệu. Khi nói “giai thoại văn học”, người ta muốn chỉ những chuyện như thế xoay quanh nhà thơ, nhà văn và các câu thơ, câu đối nổi tiếng.
| Khái niệm | Chuyện ngắn, hấp dẫn, lưu truyền rộng, gắn với người hoặc việc có thật |
| Gốc chữ | Hán Việt 佳話: giai là hay, đẹp; thoại là lời kể, câu chuyện |
| Thuộc | Truyện kể; giới nghiên cứu còn tranh luận nên xếp vào văn học dân gian, văn học viết hay sử |
| Dấu hiệu nhận biết | Nhân vật có tên tuổi thật, chuyện ngắn, có một câu nói hoặc câu thơ “đắt”, nhiều dị bản |
| Tiếng Anh | anecdote |

Giai thoại: chuyện hay về người có thật
Chữ giai trong giai thoại cũng là chữ trong giai nhân, giai phẩm: cái gì đẹp, đáng thưởng thức. Thoại là lời nói, câu chuyện, như trong đối thoại, thần thoại. Ghép lại, giai thoại là “chuyện hay”, chuyện người ta thích kể cho nhau nghe. Wiktionary tiếng Việt (dẫn theo Soha Tra Từ) giảng đó là mẩu chuyện lí thú được lưu truyền rộng, liên quan ít nhiều tới nhân vật có thật, và đưa luôn hai ví dụ: giai thoại văn học, giai thoại về nhà văn.
Chữ “ít nhiều” ở đây đáng để ý. Ông Trạng, ông Nghè, bà chúa thơ trong giai thoại đều từng sống thật, có quê quán, có năm đỗ đạt ghi trong sử. Nhưng câu chuyện về họ thì đã qua rất nhiều cửa miệng: người này thêm một câu đối, người kia đổi một địa danh. Cuối cùng, cái được giữ lại là tính cách nhân vật như dân gian muốn nhớ, chứ chưa chắc là việc đã xảy ra.
Vì vậy, giới nghiên cứu chưa thống nhất giai thoại thuộc về đâu. Có tác giả coi nó là một thể loại tự sự dân gian; có tác giả lại cho rằng gom toàn bộ giai thoại vào văn học dân gian, hay vào văn học viết, hay vào sử, đều chưa chuẩn, vì mỗi nhóm giai thoại gắn với một lĩnh vực riêng. Học sinh chỉ cần nắm: giai thoại là truyện kể, nhân vật có thật, chuyện thì không nên tin trọn.
Ba giai thoại quen thuộc và điều chúng cho thấy
Lý Bạch gác bút trước lầu Hoàng Hạc
Tương truyền Lý Bạch lên lầu Hoàng Hạc, định đề thơ, thấy bài của Thôi Hiệu đã đề trên vách thì đặt bút xuống, không viết nữa. Không ai chứng minh được chuyện này có thật, nhưng nó sống mãi vì nói gọn một nhận xét mà các nhà phê bình phải viết cả trang: bài Hoàng Hạc lâu hay đến mức một bậc thi tiên cũng phải nhường. Đó là cách giai thoại “bình thơ” mà không cần lí lẽ. Đọc thêm chân dung Thôi Hiệu và bài Hoàng Hạc lâu.
Mạc Đĩnh Chi và bài phú hoa sen
Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm 1304 đời Trần Anh Tông. Chuyện kể rằng vua chê ông tướng mạo xấu, ông bèn làm bài phú Ngọc tỉnh liên (Sen trong giếng ngọc), tự ví mình với hoa sen thanh cao. Quanh chuyến đi sứ của ông còn cả một chùm giai thoại đối đáp câu đối với quan nhà Nguyên. Phần chuyện thi đỗ có sử chép; còn từng câu đối ở cửa ải thì thuộc về lời kể.
Bài văn tế gán nhầm người viết
Cũng quanh Mạc Đĩnh Chi có chuyện ông đọc bài văn tế một công chúa nhà Nguyên, chỉ vài câu mà ví người mất với mây, tuyết, hoa, trăng. Theo một bài khảo cứu đăng trên trang của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bài văn ấy vốn của một tác giả đời Tống ở Trung Quốc; người đời sau đem gán cho ông Trạng nước Việt, và Lê Quý Đôn còn ghi có bản gán cho một người khác nữa. Ví dụ này cho thấy rõ nhất cái “sai lệch” của giai thoại: chuyện đẹp, câu văn thật, nhưng người đứng tên thì do dân gian chọn. Thể văn đọc trong lễ tang ấy khác bài phát biểu tiễn biệt ra sao, xem chỗ khác nhau giữa điếu văn và văn tế.
Dấu hiệu nhận ra một giai thoại
- Nhân vật có danh tính thật. Đây là điểm tách giai thoại khỏi truyện cổ tích, nơi nhân vật thường là “anh nọ”, “cô kia” không tên tuổi.
- Chuyện rất ngắn, xoay quanh một tình huống. Thường chỉ là một lần đối đáp, một lần bị thử tài, một câu nói lúc bất ngờ.
- Có một “điểm đắt”. Câu đối, câu thơ, lời đáp nhanh trí là thứ người nghe nhớ và kể lại. Tiếng cười có thể có, nhưng chỉ là phương tiện để chuyện được nhớ lâu.
- Nhiều dị bản. Cùng một chuyện, mỗi vùng kể một kiểu, có khi đổi cả nhân vật chính.
- Lệch với chính sử. Chi tiết trong giai thoại thường không khớp hoặc không có trong sử sách. Một số giai thoại còn mang giọng phản biện, dựng lại một danh nhân theo hướng khác hẳn hình ảnh quen thuộc.
Giai thoại, truyện cười và truyền thuyết khác nhau ra sao?
| Tiêu chí | Giai thoại | Truyện cười | Truyền thuyết |
|---|---|---|---|
| Nhân vật | Người có thật, thường là danh nhân, nhà nho, nhà thơ | Thường vô danh: anh hay khoe, ông thầy dốt | Nhân vật lịch sử được kì ảo hóa |
| Yếu tố kì ảo | Hầu như không có | Không có | Có, thường đậm |
| Mục đích chính | Khắc họa tài trí, tính cách một con người | Gây cười, phê phán thói xấu | Giải thích, tôn vinh lịch sử, phong tục |
| Ví dụ | Lý Bạch gác bút, Mạc Đĩnh Chi đi sứ | Treo biển, Lợn cưới áo mới | Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh |
Ranh giới không phải lúc nào cũng rõ. Chuyện Trạng Quỳnh hay Ba Giai Tú Xuất vừa có tên người, vừa đầy chất cười, nên có sách xếp vào giai thoại, có sách xếp vào truyện cười. Ví dụ quen thuộc là chuyện ứng đối của Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh. Còn với truyền thuyết, xem thêm đặc điểm của truyền thuyết để thấy chỗ khác: truyền thuyết cần cái kì ảo, giai thoại thì không.
Luyện tập: nhận diện giai thoại qua bốn câu
Câu 1: Câu chuyện “Một anh chàng hay khoe của, mặc áo mới đứng đợi người khen” có phải giai thoại không? Vì sao?
Đáp án: Không. Nhân vật là “anh chàng” vô danh, chuyện được dựng ra để chế giễu thói khoe khoang. Đây là truyện cười dân gian (Lợn cưới, áo mới), học trong chùm truyện cười Ngữ văn 8. Giai thoại phải gắn với người hoặc việc có thật.
Câu 2: Vì sao không nên dùng giai thoại Lý Bạch gác bút làm bằng chứng lịch sử trong bài nghị luận?
Đáp án: Vì giai thoại là lời kể truyền miệng, không có tư liệu xác nhận. Có thể dẫn nó như một lời “tương truyền” để nói về sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng không được khẳng định “Lý Bạch đã gác bút” như một sự kiện.
Câu 3: Chỉ ra dấu hiệu “sai lệch” trong chuyện Mạc Đĩnh Chi đọc văn tế công chúa.
Đáp án: Bài văn tế được khảo cứu là của tác giả đời Tống, ra đời trước Mạc Đĩnh Chi rất lâu. Người kể đã chuyển bài văn sang cho ông để làm nổi tài ứng biến của sứ thần Đại Việt. Độ lệch giữa người đứng tên trong chuyện và tác giả thật chính là tính sai lệch của giai thoại.
Câu 4: Kể một giai thoại em biết về một nhà văn, nhà thơ trong 3–4 câu và chỉ ra “điểm đắt” của nó.
Đáp án tham khảo: Có thể kể lại chuyện Lý Bạch ở lầu Hoàng Hạc: ông đến lầu, đọc thơ Thôi Hiệu trên vách, khen hay rồi bỏ bút đi. Điểm đắt là hành động gác bút, thay cho mọi lời khen. Khi kể, nên mở bằng “Tương truyền…” để người nghe biết đây là giai thoại.
Một lỗi hay gặp trong bài làm: viết “theo giai thoại, năm ấy ông đã…” rồi dùng luôn như sự kiện. Chữ giai ở đây là “hay, đẹp”, cùng gốc với giai nhân; nó khen câu chuyện hay, chứ không bảo đảm câu chuyện đúng.
Kể giai thoại trong bài văn cho khéo
Giai thoại văn học là gì?
Là những giai thoại xoay quanh nhà văn, nhà thơ và tác phẩm: chuyện làm thơ, đối câu đối, bình văn, thử tài. Chúng giúp người đọc nhớ tác giả qua một nét tính cách rất cụ thể, nhưng không thay được tiểu sử chính thức.
Giai thoại nghĩa là gì trong tiếng Anh?
Từ tương đương là anecdote: một mẩu chuyện ngắn có ý, về người, nơi chốn hay sự việc, có thể thật hoặc hư cấu. Tiếng Anh dùng từ này rộng hơn, kể cả chuyện vặt đời thường; tiếng Việt thường dành giai thoại cho chuyện của người nổi tiếng.
Giai thoại có thật không?
Nhân vật thì có thật, còn chi tiết thì thật giả lẫn lộn. Có giai thoại dựa trên một việc có ghi chép, có giai thoại hoàn toàn do người đời sau thêm vào. Khi dùng, cách an toàn là ghi “tương truyền”, “chuyện kể rằng”.
Có nên đưa giai thoại vào bài nghị luận văn học không?
Nên, nếu dùng đúng chỗ: ở mở bài để gây chú ý, hoặc để minh họa một nét phong cách. Ví dụ, dẫn chuyện Mạc Đĩnh Chi làm phú hoa sen khi bàn về khí tiết nhà nho. Chỉ cần nhớ đừng biến giai thoại thành luận cứ chính.