Sơn Tinh – Thủy Tinh là bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Nhược Pháp, kể lại truyền thuyết thần núi, thần nước tranh nhau cầu hôn Mị Nương bằng giọng thơ trẻ trung, hóm hỉnh. Tác phẩm được học trong Bài 1 “Thế giới kì ảo” của Ngữ văn 9 Kết nối tri thức và phần đọc kết nối chủ điểm Bài 4 của Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo. Bài viết tổng hợp toàn văn bài thơ, thông tin tác giả, hoàn cảnh sáng tác, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Sơn Tinh – Thủy Tinh
Bài thơ gồm 31 khổ thơ bảy chữ (124 dòng), chia làm ba phần đánh số I, II, III. Dưới đây là toàn văn theo tập Ngày xưa; SGK Kết nối tri thức lược phần II khi in.

I
Ngày xưa, khi rừng mây u ám
Sông núi còn vang um tiếng thần,
Con vua Hùng Vương thứ mười tám,
Mị Nương, xinh như tiên trên trần.
Tóc xanh viền má hây hây đỏ,
Miệng nàng hé thắm như san hô,
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ:
Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ.
Hùng Vương thường nhìn con yêu quá,
Chắp tay ngẩng lên giời tạ ân;
Rồi cười bảo xứng ngôi phò mã,
Trừ có ai ngang vì thần nhân.
Hay đâu thần tiên đi lấy vợ!
Sơn Tinh, Thủy Tinh lòng tơ vương,
Không quản rừng cao, sông cách trở,
Cùng đến Phong Châu xin Mị Nương.
Sơn Tinh có một mắt ở trán,
Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì.
Một thần phi bạch hổ trên cạn,
Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi.
Hai thần bên cửa thành thi lễ,
Hùng Vương âu yếm nhìn con yêu.
Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều!
Thủy Tinh khoe thần có phép lạ,
Dứt lời, tay hất chòm râu xanh,
Bắt quyết hò mây to nước cả,
Dậm chân rung khắp làng gần quanh.
Ào ào mưa đổ xuống như thác,
Cây xiêu, cầu gẫy, nước hò reo,
Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc,
Bò, lợn, và cột nhà trôi theo.
Mị Nương ôm Hùng Vương kinh hãi.
Sơn Tinh cười, xin nàng đừng lo,
Vung tay niệm chú. Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm cổm bò
Chạy mưa. Vua tùy con kén chọn.
Mị Nương khép nép như cành hoa:
“Con đây phận đào tơ bé mọn,
Nhân duyên cúi để quyền mẹ cha!”
Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước,
Rồi bảo mai lửa hồng nhuốm sương,
Lễ vật thần nào mang đến trước,
Vui lòng vua gả nàng Mị Nương.
II
Bình minh má ửng đào phơn phớt,
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngọn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành.
Mị Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lơ thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều,
Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mị Nương.
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu!”
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng Vương mơ, vịn tay bờ thành.
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhòa lệ ngọc ngấn đầm quanh…
Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy Tinh ngồi trên lưng rồng vàng.
Yên gấm tung dài bay đỏ chóe,
Mình khoác bào xanh da giời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai,
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.
Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân, nghiến răng, thần quát:
“Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!”
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa.
III
Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ, hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ, reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mị Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,
Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quác mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng.
Càng cua lởm chởm giơ như mác;
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, giơ vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ lòe xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mị Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”
Thủy Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mị Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
(Tháng 4 năm 1933)
Thông tin tác giả Nguyễn Nhược Pháp
Nguyễn Nhược Pháp (1914–1938) sinh ở Hà Nội, quê gốc làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc Hà Nội). Ông là con trai của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh; đỗ tú tài năm 1935 rồi theo học trường Luật ở Hà Nội.
Sự nghiệp của Nguyễn Nhược Pháp rất ngắn: ông mất năm 1938 vì bệnh lao, khi mới 24 tuổi. Tác phẩm để lại gồm tập thơ Ngày xưa (1935), vở kịch Người học vẽ và một số truyện ngắn; sau này thơ văn của ông được tập hợp trong Hoa một mùa.
Thơ Nguyễn Nhược Pháp thường tìm về đề tài lịch sử, truyền thuyết, lễ hội, phong tục xưa nhưng được kể bằng cái nhìn hiện đại, giọng điệu nhẹ nhàng, dí dỏm, pha chút bâng khuâng. Hoài Thanh đã giới thiệu ông trong Thi nhân Việt Nam. Những bài tiêu biểu: Chùa Hương, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mỵ Châu, Tay ngà.
Thông tin tác phẩm Sơn Tinh – Thủy Tinh
Xuất xứ bài thơ Sơn Tinh – Thủy Tinh
Bài thơ được viết tháng 4 năm 1933, in trong tập Ngày xưa (1935). SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức trích theo Hoa một mùa, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2018 (trang 217–223).
Hoàn cảnh sáng tác Sơn Tinh – Thủy Tinh
Bài thơ ra đời những năm đầu phong trào Thơ mới, khi các nhà thơ trẻ muốn thoát khỏi khuôn phép thơ cũ và tìm cách nói mới cho những đề tài quen thuộc. Nguyễn Nhược Pháp chọn truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh – câu chuyện ai cũng biết – rồi kể lại bằng cảm hứng lãng mạn, biến cuộc chiến chống lũ lụt thành một câu chuyện tình.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể thơ: bảy chữ, mỗi khổ bốn dòng, gieo vần chân, nhịp chủ yếu 4/3.
- Phương thức biểu đạt: tự sự (kể chuyện bằng thơ) kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Nhân vật chính: Mị Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh, vua Hùng Vương thứ mười tám.
Bố cục: Sơn Tinh – Thủy Tinh có mấy phần?
Bài thơ có ba phần, đúng như tác giả đánh số:
- Phần I (11 khổ đầu): Hùng Vương kén rể cho Mị Nương; Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn, thi tài; vua hẹn thần nào mang lễ vật đến trước sẽ được gả con.
- Phần II (12 khổ tiếp): Sơn Tinh đến trước với lễ vật, rước Mị Nương đi; Hùng Vương tiễn con; Thủy Tinh đến muộn, uất ức ra lệnh đánh Sơn Tinh.
- Phần III (8 khổ cuối): trận giao tranh giữa hai thần, tiếng kêu của Mị Nương và lời lí giải chuyện Thủy Tinh năm nào cũng dâng nước.
Giá trị nội dung
Bài thơ kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, qua đó lí giải hiện tượng lũ lụt hằng năm theo cách hiểu của người xưa. Điểm mới là nhà thơ nhìn câu chuyện như một chuyện tình: hai vị thần đều si mê Mị Nương, cuộc chiến bắt nguồn từ lòng ghen, “Cũng bởi thần yêu nên khác thường”. Tác phẩm thể hiện tình yêu với vẻ đẹp văn hóa, phong tục “ngày xưa” và cái nhìn bao dung, trìu mến với các nhân vật thần thoại.
Giá trị nghệ thuật
- Kể chuyện bằng thơ hấp dẫn: bám cốt truyện dân gian nhưng thêm nhiều cảnh mới (Mị Nương từ biệt cha, đoàn tôm cua đến muộn, trận chiến bên kiệu cưới).
- Nhân vật được “hiện đại hóa”, có ngoại hình, lời nói, cảm xúc riêng.
- Yếu tố kì ảo được miêu tả rực rỡ bằng động từ mạnh, so sánh, nhân hóa, phóng đại.
- Giọng thơ hóm hỉnh, trẻ trung với những lời bình, những câu trong ngoặc đơn như lời nhắn riêng với người đọc.
Sơn Tinh – Thủy Tinh khác gì truyền thuyết cùng tên?
Cả hai có chung cốt truyện, nhưng truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh là sáng tác dân gian bằng văn xuôi, giọng kể trang nghiêm, đề cao Sơn Tinh và ước mơ chế ngự thiên tai; còn bài thơ là sáng tác cá nhân, giàu chất trữ tình, nhân vật có đời sống nội tâm và cuộc chiến được nhìn với nụ cười bao dung.
Sơ đồ tư duy Sơn Tinh – Thủy Tinh
Sơ đồ dưới đây tóm lược sáu ý chính cần nhớ về bài thơ.

Lời kết
Sơn Tinh – Thủy Tinh cho thấy tài năng của Nguyễn Nhược Pháp trong việc làm mới một câu chuyện cổ: vẫn là thần núi, thần nước, vẫn là lũ lụt hằng năm, nhưng qua ngòi bút của ông, tất cả trở nên tươi tắn, gần gũi và đầy chất thơ. Nắm vững tác giả, hoàn cảnh, bố cục và giá trị tác phẩm sẽ giúp em soạn bài và viết bài phân tích tốt hơn.
Xem thêm: