Vịt con xấu xí là truyện cổ tích của nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen, in lần đầu năm 1843. Bài viết kể lại truyện sát nguyên tác tiếng Đan Mạch, giữ đủ các chặng đường của chú chim bị xua đuổi từ sân vịt tới hồ thiên nga. Phần sau giúp bạn hiểu ý nghĩa, những chi tiết hay bị kể sai và hoàn cảnh ra đời của truyện.

Truyện Vịt con xấu xí
Ngoài thôn quê đang độ mùa hè, cảnh đẹp vô cùng. Lúa mì ngả vàng, yến mạch còn xanh, cỏ khô đánh thành từng đống trên những bãi cỏ xanh mướt, và bác cò đi lại trên đôi cẳng dài đỏ chót, miệng lải nhải tiếng Ai Cập – thứ tiếng bác học được của mẹ. Giữa nắng vàng có một tòa trang viên cũ, bao quanh là những con kênh sâu. Từ chân tường xuống tận mép nước mọc đầy ngưu bàng, tàu lá cao đến nỗi trẻ con đứng thẳng bên dưới cũng vừa. Trong đám lá um tùm ấy, một cô vịt đang nằm ấp trên ổ. Cô đã mỏi mệt lắm rồi, vì ấp lâu quá mà hiếm khi có ai ghé thăm: các bà vịt khác thích bơi dưới kênh hơn là lên ngồi dưới lá ngưu bàng tán chuyện với cô.
Cuối cùng, những quả trứng lần lượt nứt vỏ. Tiếng chiêm chiếp vang lên, lòng đỏ trứng nào cũng đã hóa thành một chú vịt con thò đầu ra ngoài, ngó nghiêng dưới những tàu lá xanh.
– Thế giới rộng quá! – lũ vịt con cùng reo.
– Các con tưởng thế đã là cả thế giới à? – vịt mẹ bảo. – Nó còn trải sang tận cánh đồng của ông mục sư bên kia vườn cơ. Các con đủ cả rồi chứ? Ôi, chưa đủ! Quả trứng to nhất vẫn nằm đây. Còn phải đợi đến bao giờ nữa?
Một bà vịt già đến thăm, xem quả trứng rồi quả quyết đó là trứng gà tây. Bà kể mình cũng từng bị lừa như thế, khổ sở vì lũ con sợ nước, gọi thế nào cũng không chịu xuống, và khuyên vịt mẹ bỏ mặc nó mà đi dạy lũ kia tập bơi.
– Tôi ấp thêm ít bữa nữa vậy, – vịt mẹ đáp. – Đã nằm lâu thế rồi, thêm chút nữa cũng chẳng sao.
Mãi rồi quả trứng to cũng nứt. Chú vịt con lăn ra ngoài, vừa to xác vừa xấu xí. Vịt mẹ ngắm chú mà lo:
– Con vịt này to khiếp! Hay nó là gà tây con thật? Được, nó phải xuống nước, dù mẹ phải tự tay đẩy nó xuống!
Hôm sau trời đẹp tuyệt. Vịt mẹ dẫn cả nhà ra kênh. Tõm! Mẹ nhảy xuống trước, các con lần lượt nhảy theo. Nước trùm qua đầu nhưng chúng ngoi ngay lên, đôi chân tự biết đạp nước. Cả đàn đều bơi, kể cả chú vịt xám xấu xí.
– Không, nó không phải gà tây! – vịt mẹ nói. – Xem nó đạp chân khéo chưa, bơi thẳng thớm chưa! Đúng là con của mẹ. Nhìn kỹ thì nó cũng khá xinh đấy chứ. Nào, theo mẹ ra mắt cả sân vịt. Nhớ đi sát mẹ, và coi chừng lũ mèo!
Trong sân nuôi vịt đang ầm ĩ khủng khiếp: hai gia đình tranh nhau một cái đầu cá chình, rốt cuộc con mèo lại vớ mất. Vịt mẹ liếm mỏ, bảo các con ở đời là thế, rồi dặn chúng nghiêng cổ chào bà vịt già sang nhất sân, người mang dòng máu Tây Ban Nha và có mảnh vải đỏ buộc ở chân – vinh dự lớn nhất mà một con vịt có thể có. Lũ vịt con làm theo. Nhưng đám vịt xung quanh nói to:
– Lại thêm một lũ nữa, như thể ở đây còn chưa đủ chật! Mà ghê chưa, nhìn con vịt kia kìa! Không chịu nổi nó!
Lập tức một con vịt bay đến mổ vào gáy chú.
– Để nó yên! – vịt mẹ nói. – Nó có làm gì ai đâu!
– Nhưng nó to xác quá, lại kỳ cục, – con vịt vừa mổ đáp, – nên phải cho nó biết tay!
– Con cái nhà cô xinh cả, – bà vịt già có mảnh vải đỏ nói, – trừ đứa kia, hỏng mất rồi. Giá cô nặn lại được nó thì hay.
– Không được đâu, thưa lệnh bà, – vịt mẹ đáp. – Nó không đẹp, nhưng tính nết rất hiền, bơi lại giỏi chẳng kém đứa nào, có khi còn hơn. Tôi nghĩ lớn lên nó sẽ đẹp ra, hoặc với thời gian nó sẽ nhỏ lại một chút. Tại nó nằm trong trứng lâu quá nên hình dáng chưa được như ý. – Cô rỉa gáy cho chú, vuốt lông cho mượt. – Vả lại nó là vịt đực, xấu một chút cũng chẳng hề gì. Tôi tin nó sẽ khỏe mạnh và tự lo được cho mình.
– Mấy đứa kia đáng yêu lắm, – bà vịt già nói. – Cứ tự nhiên như ở nhà, mà có tìm được cái đầu cá chình nào thì mang đến cho tôi nhé!
Cả nhà ở lại sân vịt. Chỉ có chú vịt con chui ra khỏi trứng sau cùng là bị cả vịt lẫn gà mổ, xô đẩy, giễu cợt. Con nào cũng chê chú to xác. Anh gà tây trống, sinh ra đã có cựa nên tưởng mình là hoàng đế, phồng người lên như con thuyền căng hết buồm, sấn tới chú, kêu lục cục, mặt đỏ gay. Chú vịt con chẳng biết đứng đâu đi đâu cho phải, buồn bã vì thành trò cười cho cả sân.
Những ngày sau càng tệ hơn. Ai cũng xua đuổi chú, đến anh chị em ruột cũng luôn miệng mong cho mèo nó bắt chú đi. Đến vịt mẹ cũng nói giá chú đi đâu thật xa cho khuất mắt. Vịt cắn chú, gà mổ chú, cô gái cho gia súc ăn thì đá chú.
Chú bèn vừa chạy vừa bay qua hàng rào. Lũ chim nhỏ trong bụi giật mình bay vụt lên, chú nghĩ chúng sợ vì mình xấu quá, nhắm mắt chạy miết tới một đầm lầy lớn nơi bầy vịt trời sinh sống. Sáng ra, bầy vịt trời hỏi chú thuộc giống gì. Chú cúi chào lễ phép hết mức.
– Mày xấu kinh khủng! – bầy vịt trời nói. – Nhưng mặc kệ, miễn là mày đừng lấy vợ trong họ nhà tao!
Tội nghiệp chú! Chú nào nghĩ chuyện lấy vợ, chỉ mong được nằm yên trong lau sậy và uống chút nước đầm. Hai ngày sau có hai chàng ngỗng trời mới nở chưa lâu bay đến. Chúng bảo chú xấu đến mức chúng lại thấy mến, rủ chú đi làm chim di trú, sang đầm bên cạnh làm quen mấy cô ngỗng trời chưa chồng, biết đâu xấu thế lại gặp may.
Đoàng! Đoàng! Tiếng súng nổ trên đầu, cả hai chàng ngỗng rơi chết giữa đám lau, nước đỏ lòm. Đó là một cuộc săn lớn. Thợ săn phục quanh đầm, có người ngồi trên cả những cành cây chìa ra mặt sậy, khói súng xanh lơ bay như mây giữa những tán cây sẫm màu. Chó săn lội bì bõm qua bùn. Chú vịt con sợ hết hồn, vừa quặt đầu định giấu dưới cánh thì sát bên đã sừng sững một con chó to khủng khiếp, lưỡi thè dài, mắt long lên dữ tợn. Nó dí mõm sát vào chú, nhe hàm răng nhọn hoắt – rồi bì bõm bỏ đi.
– Ơn trời! – chú thở dài. – Mình xấu đến mức chó cũng chẳng buồn cắn.
Chú nằm im thin thít đến chiều, chờ thêm mấy giờ liền mới dám rời đầm, chạy băng qua đồng bãi giữa trời gió dữ. Chạng vạng, chú tới một túp lều nông dân xiêu vẹo đến mức chính nó cũng không biết nên đổ về phía nào nên cứ thế mà đứng. Cánh cửa bung một bản lề, hở ra một khe, chú lách vào. Trong lều có một bà cụ sống cùng con mèo tên là Cu Con, biết cong lưng, kêu rừ rừ và tóe lửa, và con gà mái chân ngắn tũn tên là Gà Chân Ngắn, đẻ trứng rất giỏi. Bà cụ mắt kém, tưởng chú là một con vịt mái béo bị lạc, mừng rỡ vì sắp có trứng vịt.
Chú được ở thử ba tuần, nhưng chẳng có quả trứng nào. Trong nhà, mèo là ông chủ, gà mái là bà chủ, chúng tự cho mình là một nửa thế giới, lại là nửa tốt nhất. Chú vịt con nghĩ người ta cũng có thể có ý kiến khác, nhưng gà mái không chịu nổi điều đó.
– Mày có biết đẻ trứng không? – gà mái hỏi.
– Không ạ.
– Thế thì im mồm!
Con mèo hỏi:
– Mày có biết cong lưng, kêu rừ rừ và tóe lửa không?
– Không ạ.
– Thế thì người khôn đang nói, mày đừng có ý kiến!
Chú vịt con ngồi rúc trong góc, buồn rười rượi. Chú nhớ khí trời trong lành và ánh nắng, bỗng thèm được bơi trên mặt nước đến lạ lùng, đành nói ra với gà mái. Gà mái mắng chú rỗi việc nên sinh chứng, cứ đẻ trứng hay kêu rừ rừ là khắc hết.
– Nhưng được bơi thích lắm, – chú vịt con nói, – để nước trùm qua đầu rồi lặn xuống tận đáy!
– Mày điên rồi! Thử hỏi con mèo, kẻ khôn nhất tao biết, hay hỏi bà chủ, trên đời chẳng ai khôn hơn bà, xem có ai thích để nước trùm qua đầu không? Được ở phòng ấm, sống với những kẻ mày học hỏi được mà còn lắm chuyện! Tao nói điều khó nghe là vì muốn tốt cho mày đấy.
– Em nghĩ em sẽ đi ra thế giới rộng lớn, – chú vịt con nói.
– Ừ, đi đi! – gà mái đáp.
Chú vịt con ra đi. Chú bơi, chú lặn, nhưng con vật nào cũng lờ chú đi vì chú xấu xí.
Mùa thu tới. Lá rừng ngả vàng, ngả nâu, gió cuốn chúng nhảy múa, mây nặng trĩu mưa đá và bông tuyết, con quạ đậu hàng rào kêu quạ quạ vì rét. Một buổi chiều, mặt trời lặn thật đẹp, một đàn chim lớn bay ra từ bụi cây. Chú chưa từng gặp giống chim nào đẹp như vậy: trắng muốt óng ánh, cổ dài mềm mại. Đó là những con thiên nga. Chúng cất một tiếng kêu kỳ lạ, xòe đôi cánh dài lộng lẫy, bay khỏi miền giá lạnh sang những xứ ấm áp. Chú vịt con thấy lòng xao xuyến lạ lùng, xoay tròn trên mặt nước như một cái bánh xe, vươn cổ thật cao về phía chúng và bật ra một tiếng kêu lạ đến mức chính chú cũng sợ. Chú không biết chúng tên gì, bay đi đâu, nhưng chú yêu chúng như chưa từng yêu ai. Chú chẳng hề ghen tị, vì làm sao dám mơ được đẹp như thế; chỉ cần đàn vịt chịu để chú sống giữa chúng là mừng lắm rồi.
Mùa đông đến, lạnh ghê gớm. Chú phải bơi quanh quẩn liên tục để mặt nước khỏi đóng băng, nhưng đêm nào cái lỗ nước cũng hẹp thêm. Cuối cùng chú kiệt sức, nằm im và bị đóng băng dính chặt vào mặt hồ. Sáng sớm, một bác nông dân đi qua, lấy guốc gỗ đập vỡ băng rồi mang chú về nhà. Ở đó chú hồi tỉnh. Lũ trẻ muốn chơi với chú, nhưng chú tưởng chúng định hại mình nên hoảng sợ bay vào chậu sữa, sữa bắn tung tóe, rồi lại sa vào thùng bơ, thùng bột. Bà vợ cầm kẹp gắp than đuổi đánh, lũ trẻ xô ngã cả vào nhau để bắt chú, vừa cười vừa la. May mà cửa đang mở, chú lao ra bụi cây, nằm lả đi giữa lớp tuyết mới rơi.
Kể hết những khổ sở chú phải chịu trong mùa đông khắc nghiệt ấy thì buồn quá. Khi mặt trời lại tỏa nắng ấm, chú đang nằm giữa đám sậy trong đầm. Chim sơn ca hót vang: mùa xuân đã về.
Chú bỗng giương cánh. Đôi cánh vỗ mạnh hơn trước, đưa chú bay vút tới một khu vườn rộng có cây táo đang trổ hoa, có những chùm tử đinh hương thơm ngát rủ xuống mặt những con kênh uốn lượn. Từ lùm cây phía trước, ba con thiên nga trắng tuyệt đẹp bơi ra, xù lông lướt nhẹ trên mặt nước. Chú vịt con nhận ra loài chim lộng lẫy ấy và lòng bỗng buồn man mác.
– Mình sẽ bay đến chỗ những con chim vương giả kia! Chúng sẽ mổ chết mình vì mình xấu xí thế này mà dám lại gần. Nhưng mặc kệ! Thà bị chúng giết còn hơn bị vịt cắn, gà mổ, bị cô gái coi sân gà đá và chịu khổ suốt mùa đông!
Chú bay xuống nước, bơi về phía đàn thiên nga. Chúng trông thấy, liền xù lông lao tới.
– Cứ giết tôi đi! – con vật tội nghiệp nói, cúi đầu sát mặt nước chờ chết. Nhưng chú thấy gì dưới làn nước trong vắt? Chú thấy bóng mình, không còn là một con chim xám sẫm vụng về, xấu xí: chính chú là một con thiên nga.
Sinh ra trong sân vịt cũng chẳng sao, miễn là đã nằm trong một quả trứng thiên nga!
Chú thấy vui vì những khổ cực đã trải qua, bởi giờ đây chú càng biết quý hạnh phúc của mình. Những con thiên nga lớn bơi vòng quanh, lấy mỏ vuốt ve chú. Mấy em bé vào vườn ném bánh mì xuống nước, em nhỏ nhất reo lên:
– Có một con mới!
Những em khác hò reo, vỗ tay nhảy múa, chạy đi gọi bố mẹ. Ai cũng khen con thiên nga mới đẹp nhất, vừa non vừa đẹp, và những con thiên nga già cúi đầu chào chú.
Chú ngượng ngùng giấu đầu dưới cánh. Chú sung sướng quá, nhưng không hề kiêu ngạo, vì một tấm lòng tốt chẳng bao giờ kiêu ngạo. Chú nhớ mình từng bị xua đuổi, chế giễu ra sao, mà giờ ai cũng bảo chú đẹp nhất trong những con chim đẹp. Những cành tử đinh hương nghiêng xuống mặt nước bên chú, nắng ấm dịu dàng. Chú xù lông, vươn chiếc cổ thon dài và reo lên từ đáy lòng:
– Hồi còn là vịt con xấu xí, mình nào dám mơ có ngày hạnh phúc đến thế này!
Kể theo nguyên tác tiếng Đan Mạch “Den grimme Ælling” của Hans Christian Andersen (1843)
Chú thích:
- Tiếng Ai Cập: người Đan Mạch xưa biết cò bay xuống phương nam tránh rét, nên Andersen đùa rằng cò nói tiếng Ai Cập.
- Ngưu bàng: loại cây lá to bản, mọc thành bụi rậm ven tường, ven nước.
- Mảnh vải đỏ ở chân: dấu buộc để đánh dấu con gia cầm quý của chủ, bị vịt ta hiểu thành huân chương.
- Cu Con, Gà Chân Ngắn: tên Andersen đặt cho con mèo (Sønneke) và con gà mái (Kykkelilavbeen), ở đây chuyển nghĩa sang tiếng Việt.
- Tử đinh hương: loài cây hoa chùm tím hoặc trắng, nở vào mùa xuân ở châu Âu, rất thơm.
Ý nghĩa truyện Vịt con xấu xí
Cái “xấu” nằm trong con mắt của sân vịt
Chú vịt con chưa làm điều gì sai. Chú chỉ to hơn, xám hơn và khác các anh chị. Lời giải thích của con vịt mổ chú nghe thật trơ trẽn: to xác và kỳ cục nên phải bị bắt nạt. Andersen cho thấy định kiến bầy đàn vận hành thế nào: một kẻ khởi xướng, cả sân hùa theo, và đến lúc người mẹ vốn bênh con cũng buột miệng mong con đi khuất mắt. Nỗi đau của chú không đến từ kẻ thù xa lạ mà từ chính những người lẽ ra phải che chở mình.
Mỗi nơi dừng chân là một kiểu thước đo
Rời sân vịt, chú gặp đủ loại “giám khảo”. Bầy vịt trời chịu cho chú ở, miễn đừng bén mảng làm thông gia. Hai chàng ngỗng khen chú xấu chỉ để rủ rê, rồi gục ngã vì súng. Đáng nhớ nhất là cặp gà mái và mèo trong túp lều: chúng đo giá trị của mọi sinh vật bằng tài đẻ trứng và kêu rừ rừ, ai không có hai tài ấy thì không được phép có ý kiến. Đây là những trang châm biếm sắc sảo của Andersen về kiểu người tự cho mình là một nửa thế giới và nhân danh lòng tốt để dạy đời kẻ khác.
Thiên nga không phải do khổ luyện mà thành
Nhiều người tóm tắt truyện như một bài học “cố gắng thì vịt cũng hóa thiên nga”. Nguyên tác nói khác: chú vốn đã là thiên nga từ khi nằm trong trứng. Câu bình của người kể – sinh ra trong sân vịt cũng chẳng sao, miễn là đã nằm trong trứng thiên nga – nhấn vào bản chất có sẵn chứ không phải sự lột xác nhờ chăm chỉ. Mùa đông khắc nghiệt không biến chú thành thiên nga; nó chỉ khiến chú biết quý hạnh phúc khi cuối cùng tìm được đồng loại. Và chi tiết cuối cùng mới là điểm nhấn đạo lý: được khen là đẹp nhất, chú vẫn không kiêu ngạo.
Bài học rút ra hôm nay
- Đừng làm con vịt mổ người khác: một ánh nhìn chê bai, một câu đùa ác về ngoại hình có thể theo người bị chê suốt nhiều năm, như chuyện bắt nạt trong lớp học hay trên mạng xã hội.
- Môi trường sai không định nghĩa con người bạn: bị một tập thể chối bỏ chưa chắc vì bạn kém, có thể chỉ vì bạn chưa ở đúng chỗ của mình.
- Lời nói của người thân nặng gấp bội: câu than của vịt mẹ cho thấy cha mẹ cũng có lúc vô tình làm con tổn thương.
- Đi qua khổ đau mà vẫn hiền hậu: kết truyện nhắc rằng người từng chịu thiệt không nhất thiết phải trở nên cay nghiệt.
Nguồn gốc truyện Vịt con xấu xí
Truyện có tên gốc tiếng Đan Mạch là Den grimme Ælling, do Hans Christian Andersen (1805–1875) sáng tác và in lần đầu ngày 11 tháng 11 năm 1843 tại Copenhagen, trong tập Truyện cổ tích mới (Nye Eventyr). Cùng tập ấy còn có truyện Con chim họa mi. Khác với các truyện Andersen phỏng theo truyện dân gian, đây là truyện do ông tự nghĩ ra, nên được xếp vào loại truyện cổ tích văn học (cổ tích có tác giả).
Nhiều nhà nghiên cứu đọc truyện như một tự truyện ẩn dụ: Andersen là con một người thợ giày nghèo ở Odense, thời trẻ lên Copenhagen lập nghiệp, từng bị chê cười vì dáng vẻ vụng về trước khi được cả châu Âu biết tiếng. Câu nói của người kể về trứng thiên nga cũng thường được hiểu là niềm tin của ông vào thiên hướng bẩm sinh của người nghệ sĩ.
Bản kể cho thiếu nhi hiện nay thường lược bớt cuộc săn ở đầm lầy, cuộc đối đáp với gà mái và mèo, cảnh náo loạn trong nhà bác nông dân, có bản còn thêm nhân vật hay chi tiết vốn không có trong nguyên tác. Bản kể trên đây giữ trình tự và các nhân vật của bản tiếng Đan Mạch. Nếu muốn đọc thêm Andersen, bạn có thể xem Cô bé bán diêm (An-đéc-xen) – văn bản trong sách Ngữ văn 6 – cùng soạn bài Cô bé bán diêm, Nàng tiên cá và Bộ quần áo mới của hoàng đế.
Câu hỏi thường gặp
Vịt con xấu xí thực ra là con gì?
Là một con thiên nga. Quả trứng thiên nga lẫn trong ổ vịt nên chú nở ra giữa đàn vịt; truyện không giải thích vì sao trứng lại nằm ở đó.
Ai là tác giả truyện Vịt con xấu xí?
Nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen, sách Ngữ văn Việt Nam phiên âm là An-đéc-xen. Truyện in năm 1843, cùng thời với những truyện nổi tiếng khác của ông.
Vì sao thành thiên nga rồi mà chú không kiêu ngạo?
Người kể giải thích ngay ở cuối truyện: chú quá hạnh phúc nhưng không hề kiêu ngạo, vì một tấm lòng tốt chẳng bao giờ kiêu ngạo. Những ngày bị xua đuổi khiến chú biết trân trọng chứ không khinh lại ai. Đọc tiếp một truyện Andersen ngắn hơn trong cùng lô: Nàng công chúa và hạt đậu.